Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12

Chia sẻ: Nguyễn Thị Lan Phương | Ngày: | 1 tài liệu

0
83
lượt xem
0
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12

Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12
Mô tả bộ sưu tập

Các bạn đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tư liệu cho môn Địa lý? Hãy đến với bộ sưu tập Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12. Bộ sưu tập được chúng tôi tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu hay, chất lượng của các thầy cô giáo giảng dạy trong cả nước. Hy vọng, đây sẽ là tư liệu hữu ích giúp các bạn ngày càng học tốt hơn môn Địa lý. Chúc các bạn thành công.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12

Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12
Tóm tắt nội dung

Chúng tôi xin giới thiệu phần trích dẫn nội dung của tài liệu trong bộ sưu tập Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12 dưới đây:

1) Khí hậu
- Tăng độ ẩm của các khối khí qua biển, mang lại cho nước ta lượng mưa và độ ẩm lớn, đồng thời làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và làm dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hạ.
- Nhờ có Biển Đông, khí hậu nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu hải dương nên điều hòa hơn.
2) Địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển
- Các dạng địa hình ven biển nước ta rất đa dạng: vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu có bãi triều rộng, các bãi cát phẳng, cồn cát, các đầm phá, các vũng vịn nước sâu, các đảo ven bờ và những rạn san hô….
- Các hệ sinh thái vùng ven biển rất đa dạng và giàu có
+ Hệ sinh thái rừng nước mặn ở nước ta vốn có diện tích tới 450 nghìn ha, cho năng suất sinh học cao, đặc biệt là sinh vật nước lợ.
+ Các hệ sinh thái trên đất phèn và hệ sinh thái rừng trên các đảo cũng rất đa dạng và phong phú.
3) Tài nguyên thiên nhiên vùng biển
- Tài nguyên khoáng sản:
+Có trữ lượng lớn và giá trị nhất là dầu khí. Hai bể dầu lớn nhất hiện đang được khai thác là Nam Côn Sơn và Cửu Long; các bể dầu khí Thổ Chu-Mã Lai và Sông Hồng có trữ lượng đáng kể.
+ Các bãi cát ven biển có trữ lượng lớn titan là nguồn nguyên liệu quý cho các ngành công nghiệp.
+ Vùng ven biển nước ta còn thuận lợi cho nghề làm muối, nhất là ven biển Nam Trung Bộ, nơi có nhiệt độ cao, nhiều nắng, lại chỉ có một số sông nhỏ đổ ra biển.
- Tài nguyên hải sản:
+ Sinh vật Biển Đông tiêu biểu cho hệ sinh vật vùng biển nhiệt đới giàu thành phần và có năng suất sinh học cao, nhất là ở vùng ven bờ. Trong Biển Đông có trên 2000 loài cá, hơn 100 loài tôm, khoảng vài chục loài mực, hàng nghìn loài sinh vật phù du và sinh vật đáy khác.
+ Ven các đảo, nhất là tại quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa có nguồn tài nguyên quý giá là các rạn san hô cùng đông đảo các loài sinh vật khác.
4) Thiên tai
- Bão: Mỗi năm trung bình có 9-10 cơn bãi xuất hiện ở Biển Đông, trong đó có 3-4 cơn bão trực tiếp đổ vào nước ta, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, nhất là với cư dân sống ở vùng ven biển nước ta.
- Sạt lở bờ biển: Hiện tượng sạt lở bờ biển đã và đang đe dọa nhiều đoạn bờ biển nước ta, nhất là dải bờ biển Trung Bộ.
- Ở vùng ven biển miền Trung còn chịu tác hại của hiện tượng cát bay, cát chảy lấn chiếm ruộng vườn, làng mạc và làm hoang mạc hóa đất đai. 

Để có đầy đủ, chi tiết và đúng định dạng, bạn vui lòng tải Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam Địa lý 12 để xem.
Đồng bộ tài khoản