Bài giảng Ngữ văn 11 tuần 10: Hai đứa trẻ

Chia sẻ: Cầm Anh Khoa | Ngày: | 3 bài giảng

0
1.215
lượt xem
60
download
Xem 3 bài giảng khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THPT để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Bài giảng Ngữ văn 11 tuần 10: Hai đứa trẻ

Mô tả BST Bài giảng Ngữ văn 11 bài Hai đứa trẻ

BST các Bài giảng Ngữ văn 1 Hai đứa trẻ được chọn lọc từ các trường có tiếng trong cả nước, với nội dung được thiết kế chi tiết, sinh động sẽ giúp các em ôn tập lại kiến thức bài học nhanh chóng hơn. Qua đó, các em sẽ biết được những kiếp người lao động nghèo khổ, bế tắc trước cách mạng tháng Tám; cảm thông trân trọng của Thạch Lam trước mong ước của họ về một tương lai tươi sáng. Bên cạnh đó, học sinh còn bước đầu làm quen với phương pháp phân tích tác phẩm dưới góc độ biểu tượng NT; tìm hiểu biểu tượng bóng tối và ngọn đèn dầu nơi phố huyện; giới thiệu một phong cách truyện ngắn độc đáo - truyện không có truyện; giới thiệu tác giả, tác phẩm, đọc và nhận dạng tác phẩm.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Bài giảng Ngữ văn 11 bài Hai đứa trẻ

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN 11

HAI ĐỨA TRẺ

                          (Thạch Lam )


I/ Giới thiệu:

1.Tác giả: Thạch Lam (1910 - 1942)

  • Tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh sau đổi thành Nguyễn Tường Lân
  • Quê nội ở Hội An, (Quãng Nam). Thưở nhỏ ông sống ở quê ngoại thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
  • Là cây bút viết truyện ngắn tài ba xuất sắc.
  • Truyện ngắn Thạch Lam thường không có cốt truyện, chuyên khai thác nội tâm nhân vật. Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình.
  • Văn Thạch Lam trong sáng giản dị, thâm trầm, sâu sắc.
  • Sáng tác chính: SGK  

2. Tác phẩm

a. Xuất xứ:

  • Tác phẩm được in ở tập “Nắng trong vườn (1938).

b. Bối cảnh: Phố huyện

c. Bố cục: 

  • Đoạn 1: “Từ đầu… về phía nghèo, ga xép Cẩm làng”-> Phố huyện lúc chiều tàn Giàng, quê ngoại của
  • Đoạn 2: “ Trời đã bắt đầu nhà văn những năm đêm…..hằng ngày của họ”->Phố trước Cách mạng huyện trong đêm. Tháng Tám (1945).
  • Đoạn 3: Còn lại -> Phố huyện về khuya.

3. Tóm tắt.

  Chị em Liên và An là hai đứa trẻ được mẹ giao trông coi một cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu tại một phố huyện nghèo bên cạnh ga xe lửa, để giúp gia đình vốn đã lao đao : cha mất việc, cả nhà phải bỏ Hà Nội chuyển về sinh sống ở quê. Cũng như nhiều người dân lam lũ tại phố huyện, hai chị em Liên, An vừa bán hàng vừa trông chờ chuyến tàu đêm từ Hà Nội về, ầm ầm lăn bánh qua phố huyện rồi khuất dạng, im tiếng trong trời đêm sâu thẳm. Lúc đó người buôn bán ở phố huyện mới dọn hàng sau một tối ế ẩm để trở về nhà. Còn hai đứa trẻ dần dần chìm vào giấc ngủ yên tĩnh.

II. Đọc - hiểu văn bản

1. Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn

a. Cảnh chiều tàn của thiên nhiển phố huyện

  • Âm thanh
    • Tiếng trống thu không.
    • Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió đưa vào.
    • Tiếng muỗi vo ve trong cửa hàng của chị em Liên.
  • Hình ảnh và màu sắc
    • Phương tây đỏ rực như lửa cháy.
    • Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn.
    • Dãy tre làng đen lại.
    • Đường nét: dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời → Một bức tranh đồng quê quen thuộc, gần gũi và gợi cảm; bình dị mà không kém phần thơ mộng mang cốt cách Việt Nam

b. Bức tranh đời sống phố huyện

  • Cảnh chợ tàn :
    • Người về hết, tiếng ồn ào mất.
    • Chỉ còn lại rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía…
    • Mùi âm ẩm của hơi nóng ban ngày và cát bụi.

→ Chợ nghèo, buồn vắng xao xác - không gian làng quê Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
→ Chợ là bộ mặt kinh tế, tập trung sức sống của một vùng. Miêu tả cảnh chợ tàn, Thạch Lam làm nổi bật vẻ
nghèo nàn, xơ xác, tiêu điều của phố huyện.

  • Những mảnh đời tàn:
    • Những đứa trẻ con nhà nghèo, đi lại tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.
    • Mẹ con chị Tý với hàng nước sơ sài, ế ẩm.
    • Chị em Liên ngồi trên cái chõng nát để trông coi quầy tạp hóa nhỏ xíu.
    • Bà cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách, lảo đảo lẩn vào bóng tối.
    • Gia đình bác Xẩm : cảnh đời bất hạnh sống trông chờ vàosự bố thí của người đời.

→ Cuộc sống chật vật nghèo đói và tiêu điều đến thảm hại.

⇒ Cái nhìn xót thương da diết mà kín đáo của Thạch Lam

c Tâm trạng chị em Liên trước cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ :

  • Ngồi im lặng, mắt ngập đầy bóng tối.
  • Lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn.
  • Cảm nhận mùi riêng của đất, của quê hương này.
  • Động lòng thương bọn trẻ con nhà nghèo.
  • Xót thương cho mẹ con chị Tý.

→ Là cô bé có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, có lòng trắc ẩn đối với con người, đồng cảm với những người nghèo khổ.
⇒ Tác giả bày tỏ tình cảm yêu mến gắn bó đối với quê hương đất nước; cảm thông thương xót đối với những kiếp người nghèo khổ.

2 - Phố huyện lúc đêm khuya

  • Hình tượng bóng tối :
    • Bóng tối đen kịt bao trùm lên đường phố và các ngõ vào làng, ra sông, qua chợ, về nhà.
    • Bóng tối đậm đặc cả bầu không khí, tiếng trống cầm canh cũng không xuyên qua được bóng tối dày đặc “tung lên một tiếng ngắn khô khan không vang động ra xa rồi chìm ngay vào bóng tối”

→ Bóng đêm là hướng đi tới, đi về, đi đến, đi ra của bao người; trở thành số phận, tương lai của người dân phố huyện. “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi cho một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng
ngày của họ”.
⇒ Thể hiện nỗi day dứt thấm thía nỗi buồn thân phận và niềm cảm thông của tác giả.

  • Hình tượng ánh sáng :
    • Khe sáng lọt ra từ những cánh cửa khép hờ trong phố.
    • Ánh sáng của sao và vệt sáng của đom đóm.
    • Quầng sáng thân mật quanh ngọn đèn của chị Tý.
    • Chấm lửa nhỏ và vàng từ bếp phở của bác Siêu.
    • Từng hột sáng thưa thớt từ ngọn đèn vặn nhỏ của Liên.

→ Bóng tố bao trùm, đậm đặc Ánh sáng nhỏ nhoi, mong mênh mông manh đến tội nghiệp

3. Hình ảnh đoàn tàu

  • TL tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự thời gian, qua tâm trạng chờ mong của Liên và An cùng với người dân phố huyện nghèo: - Hình ảnh đoàn tàu lặp 10 lần trong tác phẩm.
  • Đoàn tàu từ Hà Nội “ với những toa đèn sáng trưng, những toa hạng trên sang trọng lố nhố người, đồng và kền lấp lánh” nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện
  • Đối với chị em Liên, chuyến tàu đêm còn gợi nhớ về những kỉ niệm của ngày xưa sung sướng, của Hà Nội xa xăm,Hà Nội rực sáng và huyên náo
  • Đó là thói quen, là niềm vui, là sự chờ đợi -> trở thành nhu cầu thiết yếu hàng ngày cho đời sống tinh thần người dân phố huyện
  • Chuyến tàu đêm “ như đã đem một thế giới khác đi qua” đoàn tàu đến và đi như một lịch trình nhưng hình ảnh đoàn tàu sáng trưng cũng tạo một thoáng vui, một niềm an ủi, một nỗi khao khát mơ hồ, một mơ ước không bao giờ tắt, một chút tươi sáng cho sự sống nghèo khổ, đơn điệu, tẻ nhạt hàng ngày của họ

→ Cuộc sống mòn mỏi nơi phố huyện như cái ao tù vô hình muốm nhân chìm họ. Cố thức để dợi đoàn tàu là những nổ lựa muốn ngoi lên bám vào cái phao tin thần để khỏi bị chìm ngập trong không gian nghèo nàn và tù túng nơi phố huyện: Đó là giá trị nhân văn vủa tác phẩm

  • Sau khi đoàn tàu đi qua: phố huyện lại chìm vào yên tĩnh, tịch mịch

⇒ Hiện thực cảnh đời buồn tẻ ở một phố huyện nhỏ có một ý nghĩa khái quát: nó tái hiện tính trì trệ từ lâu của XHVN thời Pháp thuộc.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật:

  • Truyện không có cốt truyện
  • Ngôn ngữ súc tích, giàu tính biểu cảm, giàu chất thơ.
  • Đan xen yếu tố lãng mạn và hiện thực.
  • Miêu tả tâm lí đặc sắc.

2. Nội dung:

  • TL thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh, bế tắc ở phố huyện nghèo trước CM. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng đối với những mong ước tuy còn mơ hồn của họ.

Trên đây chỉ là nội dung của 1 trong 3 bài giảng Hai đứa trẻ, để xem các bài giảng còn lại quý thầy cô và các bạn học sinh vui lòng đăng kí tài khoản trên trang thư viện elib sau đó đăng nhập và tải tài liệu về máy. Bên cạnh đó, có thể xem thêm bài giảng tiếp theo tại đây:

Đồng bộ tài khoản