Bài giảng Ngữ văn 11 tuần 20 bài: Hầu trời - Tản Đà

Chia sẻ: Nguyễn Minh Quân | Ngày: | 10 bài giảng

0
1.052
lượt xem
49
download
Xem 10 bài giảng khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THPT để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Bài giảng Ngữ văn 11 tuần 20 bài: Hầu trời - Tản Đà

Mô tả BST Bài giảng Ngữ văn 11 bài Hầu trời - Tản Đà

Thư viện eLib xin giới thiệu trọn bộ sưu tập nhiều Bài giảng Ngữ văn 11 Hầu trời - Tản Đà để quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo. Với những bài giảng được trình bày với bố cục rõ ràng trên từng slide powerpoint, nội dung bài học sát với chương trình do Bộ GD&ĐT phân phối, sẽ giúp cho quý thầy cô truyền tải những kiến thức trọng tâm của bài cho học sinh, giúp các em biết ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ của Tản Đà, được thể hiện qua cách nhà thơ hư cấu câu chuyện Hầu trời đầy kì thú. Ngoài ra, các em còn thấy được những cách tân nghệ thuật trong bài thơ và quan niệm mới về nghề văn của ông. Chúng tôi hy vọng, bộ sưu tập này sẽ là tài liệu hữu ích dành cho việc dạy và học của thầy cô và các em học sinh. Chúc tiết học của quý thầy cô thành công!

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Bài giảng Ngữ văn 11 bài Hầu trời - Tản Đà

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN LỚP 11

HẦU TRỜI

                              (Tản Đà)


I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

  • Tản Đà (1889 – 1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu
  • Quê hương: tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây)
  • Con người:
    • Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời
    • “Người của hai thế kỷ”(Hoài Thanh)
    • Học chữ Hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương quốc ngữ…
  • Phong cách thơ văn:
    • Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khóang, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái.
    • Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời đại văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại.

2. Các tác phẩm

  • Thơ: Khối tình con I,II (1916, 1918)
  • Truyện: Giấc mộng con I,II (1916, 1932)
  • Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928)
  • Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921) 

3. Văn bản “hầu trời”
a. Xuất xứ:

  • Trong tập Còn chơi (1921)
  • Bài thơ ra đời vào thời điểm khuynh hướng lãng mạn đã khá đậm nét trong văn chương thời đại. Xã hội thực dân nửa phong kiến tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh ngang trái, xót đau…

b. Đọc, giải thích từ khó (Đọc phần chữ to)

c. Bố cục: 3 phần

  • Phần 1: Giới thiệu về câu chuyện (từ “Đêm qua…” đến “lạ lùng”)
  • Phần 2: Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe (từ “Chư tiên…” đến “chợ Trời”)
  • Phần 3: Thi nhân trò chuyện với Trời (từ “Trời lại phê cho…” đến “sương tuyết”)

II. Tìm hiểu văn bản

1. Giới thiệu câu chuyện

  • Các em đọc lại khổ thơ thứ nhất và trả lời những câu hỏi (cho học sinh thảo luận theo từng tổ)
    • Câu chuyện xảy ra vào lúc nào? Và nói về việc gì?
    • Nhân vật trữ tình ở đây là ai? Mang tâm trạng gì?
    • Nhận xét biện pháp nghệ thuật được tác giả vận dụng trong khổ 1?
    • Với cách giới thiệu như vậy đã gợi cho người đọc cảm giác như thế nào về câu chuyện mà tác giả sắp kể?
    • Từ đó, ta thấy được gì về “cái tôi” cá nhân của thi sĩ Tản Đà?
      • Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (Đêm qua chẳng biết có hay không) → gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng lặng…
      • Chuyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (Thật được lên tiên – sướng lạ lùng).
      • Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng”
  • Biện pháp nghệ thuật:
    • Điệp từ: “thật” (Thật hồn ! Thật phách ! Thật thân thể! Thật được lên tiên…) → nhấn mạnh tâm trạng, cảm xúc của thi nhân.
    • Câu cảm thán → bộc lộ cảm xúc bàng hoàng.
    • Câu khẳng định → dường như lật lại vấn đề: mơ mà như tỉnh, hư mà như thực.
  • Cách giới thiệu trên đã gợi cho người đọc về tứ thơ lãng mạn nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được cái “hồn cốt” trong cõi mộng, mộng mà như tỉnh, hư mà như thực.
  • Ngay khổ thơ mở đầu người đọc cảm nhận được một “cái tôi” cá nhân đầy chất lãng mạn, bay bỏng pha lẫn với nét “ngông” trong phong cách thơ văn của thi nhân. Với cách vào chuyện thật độc đáo, có duyên đã làm cho câu chuyện mà tác giả sắp kể trở nên lôi cuốn, hấp dẫn.

2. Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe

Học sinh lần lượt trả lời các câu hỏi:

  • Thái độ của thi nhân khi đọc thơ như thế nào ?
  • Thái độ của người nghe thơ (Trời và chư tiên) ra sao ?
  • Qua đó, em có nhận xét gì về thơ, về giọng đọc của tác giả?
  • Từ sự phân tích trên, có cảm nhận gì về cá tính, tâm hồn nhà thơ ?

a. Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình

  • Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc:


Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.

Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe trời cũng lấy làm hay.

Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe trời cũng thật buồn cười!

  • Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:

Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết

  • Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh, có phần tự đắc…

→ Thi nhân rất ý thức về tài năng thơ văn của mình, và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể. Ông cũng rất ngông khi tìm đến tận trời để khẳng định tài năng của mình tước Ngọc hoàng Thượng đế và chư tiên. Cái ngông trong văn chương thường biểu hiện thái độ phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa, có cốt cách, có tâm hồn không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, sự đơn điệu, nên thường tự đề cao, phóng đại cá tính của mình. Đó là niềm khao khát chân thành trong tâm hồn thi sĩ. (Liên hệ tác giả Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ khi nói về cái tôi ngông nghênh, kiêu bạt, hào hoa…)

b. Thái độ của người nghe thơ

  • Thái độ củaTrời: khen rất nhiệt thành : Văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt đẹp như sao băng, văn hùng mạnh như mây chuyển, êm như gió thỏang, tinh như sương, đầm như mưa sa, lạnh như tuyết,…
  • Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng :

Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mội bài cùng vỗ tay...

→ Người nghe rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả
⇒ Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạn và thể hiện tư tuởng thoát li trước thời cuộc.
3. Thi nhân trò chuyện với Trời
a. Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình

  • Thi nhân kể gì về hoàn cảnh của mình cho Trời nghe?
  • Thi nhân kể họ tên, quê quán :

“ Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt.”

  • Cách kể họ tên trong thơ văn càng khẳng định hơn về cái tôi cá nhân ( Liên hệ nữ sĩ Hồ Xuân Hương)
  • Thi nhân kể về cuộc sống :

“ Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó.

Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu…”

  • Từ đó em có nhận xét gì về cuộc sống của thi nhân?
    • Cuộc sống nghèo khó, túng thiếu. Thân phận nhàvăn bị rẻ rúng, coi thường. Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cõi Trời để thỏa nguyện nỗi lòng.
    • Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội bấy giờ – một cuộc sống cơ cực, tủi hổ, không tấc đấc cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn,…
    • Tác giả cho người đọc thấy một bức tranh rất chân thực và cảm động về chính cuộc đời mình và cuộc đời nhiều nhà văn, nhà thơ khác. ( Liên hệ cuộc đời nhà văn Nam Cao chẳng hạn và cuộc đời thật của Tản Đà )

→ Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này.

Trên đây chỉ là một phần nội dung của bài giảng Hầu trời - Tản Đà, để xem các bài giảng còn lại quý thầy cô và các bạn học sinh vui lòng đăng kí tài khoản trên trang thư viện elib sau đó đăng nhập và tải tài liệu về máy. Bên cạnh đó, có thể xem thêm bài giảng tiếp theo tại đây:

Đồng bộ tài khoản