Bài giảng Ngữ văn 11 tuần 4: Bài ca ngất ngưởng

Chia sẻ: Ka Duỳn | Ngày: | 8 bài giảng

0
442
lượt xem
30
download
Xem 8 bài giảng khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THPT để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Bài giảng Ngữ văn 11 tuần 4: Bài ca ngất ngưởng

Mô tả BST Bài giảng Ngữ văn 11 bài Bài ca ngất ngưởng

Trọn bộ sưu tập nhiều Bài giảng Ngữ văn 11 Bài ca ngất ngưởng, mà Thư viện eLib muốn chia sẻ đến quý thầy cô giáo và các em học sinh. Với những bài giảng được trình bày với bố cục rõ ràng trên từng Slide Powerpoint, nội dung bài học sát với chương trình do Bộ GD&ĐT phân phối, sẽ giúp cho quý thầy cô truyền tải những kiến thức trọng tâm của bài cho học sinh, giúp các em hiểu được phong cánh sống của Nguyễn Công Trứ với tính cánh một nhà nho, hiểu được vì sao có thể coi đó là sự thể hiện bản lĩnh cá nhân mang ý nghĩa tích cực. Bên cạnh đó, các em còn hiểu được đúng nghĩa của khái niệm “ngất ngưởng” để không nhầm lẫn với lối sống lập dị của một số người hiện đại; nắm được những tri thức về thể hát nói là thể thơ dân tộc bắt đầu phổ biến ở đầu thế kỉ XIX. Chúng tôi hi vọng, bộ sưu tập này sẽ là tài liệu hữu ích dành cho việc dạy và học của thầy cô và các em học sinh.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Bài giảng Ngữ văn 11 bài Bài ca ngất ngưởng

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN 11

BÀI CA NGẤT NGƯỞNG

                             (Nguyễn Công Trứ)


I. Giới thiêu chung:

1. Tác giả:

  • Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) Hiệu là Hi Văn. Quê ở Hà Tĩnh.
  • Văn võ toàn tài, nhiều thăng trầm trên đường công danh.
  • Giàu lòng yêu nước, thương dân. Năm 80 tuổi vẫn xin vua cầm quân ra trận đánh Pháp (1858) .
  • Sáng tác thơ văn: Còn trên 50 bài thơ, trên 60 bài hát nói và 1 bài phú nôm “Hàn nho phong vị phú”.

2. “Bài ca ngất ngưởng”:

  • Là bài ca trù nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ.
  • Viết sau năm 1848 - năm Nguyễn Công Trứ về nghỉ ở quê nhà.
  • Như một lời tự thuật cuộc đời, qua đó Nguyễn Công Trứ tự hào về tài năng và công danh bày tỏ một quan niệm sống tài tử, phóng khoáng
  • Tuyên ngôn:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”

 

  • Và hóm hỉnh:

“Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch
Người quân tử ăn chẳng cần no !”

3. Bố cục (theo ý lớn):

1. Tài năng và sự “ngất ngưởng” khi Nguyễn công Trứ làm quan

Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.

  • Câu 1, 2:  Đối lập giữa phận sự mang tầm vóc vũ trụ lớn lao với cảnh ngộ “đã vào lồng” rất chật hẹp tù túng. “Ông Hi Văn tài bộ ” tự xưng rất đỗi kiêu hãnh, tự hào. 
  • Câu 3, 4:

      “Khi Thủ khoa/ khi Tham tán / khi Tổng đốc Đông/

              Gồm  thao lược / đã nên tay / ngất ngưởng”

    Cách ngắt nhịp (3 – 3 – 4 – 3 – 3 –) đã tạo nên một giọng nói điệu hào hứng. => Biện pháp liệt kê liên tiếp: Kể tên nhiều trọng trách, không nói dài.

→ Là một con người có tài thao lược nên ta (ông Hi Văn) đã nên “tay ngất ngưởng”. Đó là con người khác với thói đời đen bạc, khác thiên hạ, và bất chấp mọi đánh giá của “miệng thế”. 

  • Câu 5,6: Chức danh gắn với địa danh từng kinh qua:  Tác giả khẳng định mình là một con người có tài kinh bang tế thế 

    • Lúc loạn - giúp nước “Bình Tây cờ đại tướng”
    • Lúc bình - giúp vua làm “Phủ doãn Thừa Thiên”.

2. Sự “ngất ngưởng” trong những thú chơi khi Nguyễn công Trứ về nghỉ

Đô môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi!
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì ,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.

  • Xưa là một danh tướng (tay kiếm cung) thế mà trở về rất từ bi hiền lành, bình dị. 
  • Khi có phận sự thì xuôi ngược hết mình, còn khi đã về trí sĩ, “ngất ngưởng” vui sống bất chấp ai cười . Trả áo mũ cho triều đình, ông Hi Văn về quê không cưỡi ngựa mà là cưỡi bò vàng đeo đạc ngựa, đó là một sự “ngất ngưởng”, rất khác người.

  • Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp : “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”, ông đã mang theo “một đôi dì” (một hai nàng hầu). Và do đó “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”. 

3. Nguyễn công Trứ - một danh thần “ngất ngưởng”

Chẳng Trái, Nhạc, cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông.

  • Tự hào khẳng định mình là một danh thần thủy chung trong đạo “vua tôi” chẳng kém gì những Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. 
  • Bằng “thước đo” là sự ngất ngưởng Nguyễn Cụng Trứ đó đối lập: Các quan trong Triều > < Ông (không loại  trừ vua).

  • Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, phải có thực tài, phải có thực danh phải “vẹn đạo” với nước (Vua) thì mới trở thành “tay ngất ngưởng”, “ông ngất ngưởng”. Cách sống “ngất ngưởng” của ông thể hiện chất tài hoa, tài tử, “không vướng tục”, cũng không thoát li.

Trên đây là một phần trích dẫn nội dung từ bài giảng Bài ca ngất ngưởng, để xem nội dung còn lại của bài giảng và các bài giảng khác trong BST quý thầy cô và các bạn học sinh vui lòng đăng nhập vào trang thư viện elib để download tài liệu về máy. Bên cạnh đó, thầy cô và các bạn có thể xem thêm bài giảng tiếp theo tại đây:

Đồng bộ tài khoản