Bài giảng Ngữ văn 12 tuần 28 bài: Diễn đạt trong văn nghị luận

Chia sẻ: Kiên Thị Ngọc Đăng | Ngày: | 6 bài giảng

0
556
lượt xem
22
download
Xem 6 bài giảng khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THPT để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Bài giảng Ngữ văn 12 tuần 28 bài: Diễn đạt trong văn nghị luận

Mô tả BST Bài giảng Ngữ văn 12 bài Diễn đạt trong văn nghị luận

Mời các bạn bạn học sinh, quý thầy cô cùng tham khảo bộ sưu tập gồm những Bài giảng Ngữ văn Diễn đạt trong văn nghị luận, được thiết kế công phu kỹ càng cả nội dung lẫn hình thức, nhằm mang đến cho bạn hiệu quả cao nhất trong giảng dạy và học tập. Nội dung bài học giúp các em biết chuẩn mực diễn đạt của bài văn nghị luận, rèn luyện nhằm nâng cao kĩ năng vận dụng những cách diễn đạt khác nhau để trình bày vấn đề một cách linh hoạt, sáng tạo. Ngoài ra, còn giáo dục học sinh biết cách tránh lỗi về sử dụng giọng điệu không phù hợp với chuẩn mực ngôn từ của bài văn nghị luận. Hy vọng, bộ sưu tập những bài giảng này sẽ là tài liệu hữu ích dành cho việc tự học tại nhà của các em học sinh và tài liệu tham khảo cho việc thiết kế bài giảng hay hơn của quý thầy cô giáo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Bài giảng Ngữ văn 12 bài Diễn đạt trong văn nghị luận

BÀI GIẢNG NGỮ VĂN LỚP 12

DIỄN ĐẠT TRONG VĂN NGHỊ LUẬN

 

I – Cách sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận

1. Bài tập 1
  • Đề bài: Vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh qua một số bài thơ của tập Nhật ký trong tù: Chiều tối; Giải đi sớm; Mới ra tù, tập leo núi.
  • Hướng dẫn: Trước khi làm bài tập, cần xác định:
    • Phong cách chức năng
    • Đối tượng (vấn đề, nội dung) nghị luận theo yêu cầu của đề
    • Phong cách chính luận
⇒ Cần sử dụng từ ngữ chính xác,có sự gọt giũa, lập luận chặt chẽ, lời lẽ truyền cảm, có thể dùng đa dạng các phương tiện biểu cảm, các kiểu câu để gây tác động về tình cảm và lí trí.
  • Đối tượng nghị luận : vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh (qua thơ văn)

=> Phải cân nhắc cách dùng từ ngữ sao cho thể hiện sự trân trọng đối với Bác và sự súc tích, biểu cảm của bài nghị luận văn học.

a. Cùng trình bày một nội dung cơ bản nhưng cách dùng từ ngữ có khác nhau:

  • Ở ví dụ 1, người viết có cách diễn đạt khá trong sáng, mạch lạc nhưng chưa thật trau chuốt biểu cảm. Ví dụ 2 có sự cân nhắc hơn về từ ngữ. 
  • Vd:
    • (1)Tập thơ gồm những bài được Bác làm trong lúc nhàn rỗi …
    • (2) Tập thơ được viết trong những thời khắc hiếm hoi – được thanh nhàn bất đắc dĩ…
    • (1)Bác vốn chẳng thích làm thơ…
    • (2)Thơ không phải là mục đích cao nhất của người chiến sĩ cách mạng…
  • Nói về Bác, người viết ở ví dụ 2 đã dùng phép thế từ ngữ để tránh trùng lặp, làm cho ý tứ thêm phong phú:
    • Hồ Chí Minh, Bác, người chiến sĩ cách mạng, Người,người nghệ sĩ – chiến sĩ.
    • Cách trích dẫn các từ ngữ được dùng để nói chính xác cái “thần” trong con người và thơ Bác của các nhà thơ khác, các nhà nghiên cứu làm cho văn có hình ảnh, sinh động, giàu tính thuyết phục…

b. Những từ ngữ dùng không phù hợp với đối tượng nghị luận: nhàn rỗi, vốn chẳng thích làm thơ, mang một vẻ đẹp lung linh bởi chúng mang phong cách khẩu ngữ, hơn thế không chính xác khi nói về Bác ( trong tù mà nhàn rỗi?, Bác không thích làm thơ? )

  • Có thể sửa lại như sau:
    • …làm trong những giờ khắc “ngồi buồn ngâm ngợi cho khuây” ở chốn lao tù tăm tối, cô đơn;
    • …Bác không coi thơ là con đường dùng để lập thân (hay sự nghiệp chính);
    • …ngời sáng một vẻ đẹp đáng yêu, đáng kính
2. Bài tập 2

      Ấy là Huy Cận đó – nhưng một thi sĩ “thiên nhiên” như chàng thì ở nơi nào chẳng được; ở thời nay cũng như ở thời xưa; chàng như không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian; người ta muốn tưởng linh hồn Huy Cận là mây kia, là nỗi hiu hắt trong cõi trời, là hơi gió nhớ thương…

     Trong thơ Việt Nam, nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không phải sáo Thiên Thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện một cái “tôi”; mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc, bông lau; có phải niềm than vãn của bờ sông bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao?

                                                                                (Xuân Diệu, Lời tựa tập Lửa thiêng)

  • Em hãy xác định đối tượng nghị luận của đoạn văn và nêu hiểu biết của mình về đối tượng ấy.
    • Đối tượng nghị luận: tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (viết trước Cách mạng Tháng Tám, bao trùm  Lửa thiêng là một nỗi buồn mênh mang da diết. Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh,  đẹp nhưng buồn. Hồn thơ “ảo não”, bơ vơ đó xét đến cùng là buồn thương về cuộc đời, kiếp người,  về quê hương đất nước).
a. Những từ ngữ in đậm trong đoạn trích:
  • Chàng, linh hồn Huy Cận, nỗi hắt hiu trong cõi trời, hơi gió nhớ thương, một tiếng địch buồn, sáo Thiên Thai, điệu ái tình, lời li tao, một bản ngậm ngùi dài…
    • Thể hiện sự đồng cảm đồng điệu, thương mến, trân trọng của người viết (Xuân Diệu) đối với nhà thơ Huy Cận đồng thời cũng lột tả được cái “linh hồn” của đối tượng nghị luận trên: lặng lẽ, u sầu.
b. Những từ ngữ thuộc lĩnh vực tinh thần đó mang một nét nghĩa chung: u sầu, hiu hắt, lặng lẽ, âm thầm rất phù hợp với đối tượng nghị luận bởi chúng đã thể hiện được nét đặc trưng của đối tượng ấy. 
3. Bài tập 3
  • Đề bài: Trình bày những suy nghĩ của anh(chị) về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác con người qua đoạn trích VII của vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)
    • Lưu Quang Vũ là một kịch tác gia vĩ đại. Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt xứng đáng là một kiệt tác trong kho tàng văn học nước nhà. Nhà văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: sự tranh chấp giữa linh hồn và thể xác trong quá trình con người đạt đến sự hoàn thiện. Thực ra, người ta ai mà chẳng phải sống bằng cả linh hồn và thể xác. Linh hồn có cao khiết, đẹp đẽ thế nào cũng chẳng là gì cả khi không có thể xác. Anh chàng Trương Ba trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt cũng thế mà thôi. Anh ta không thể sống chỉ bằng phần hồn. Nhưng phần hồn ấy, vì những trớ trêu,éo le của số phận, lại bị nhập vào xác của tên hàng thịt. Chẳng qua đó chỉ là một cái xác “âm u đui mù” nếu không có hồn Trương Ba. Nhưng nó cũng không để cho hồn Trương Ba được yên mà còn làm anh ta phát bệnh vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt của nó.
a. Những từ ngữ dùng sai, không phù hợp:
  • Vĩ đại, kiệt tác

     (khuôn sáo, không phù hợp đối tượng)

  • Người ta ai mà chẳng phải, cũng chẳng là gì cả, cũng thế mà thôi, phát bệnh

     (mang tính khẩu ngữ, không gọt giữa)

  •  Anh chàng, anh ta

     (không phù hợp khi nói về Trương Ba)

b, c. Thay thế từ ngữ và viết lại đoạn văn
  • Bài làm gợi ý: Lưu Quang Vũ là nhà soạn kịch đầy tài năng. Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tác phẩm có tiếng vang lớn và để lại một dấu ấn riêng trong kho tàng văn học nước nhà. Nhà văn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: sự tranh chấp giữa linh hồn và thể xác trong quá trình con người sống và hướng tới sự hoàn thiện. Thực ra, không ai là không phải sống bằng cả linh hồn và thể xác. Linh hồn có cao khiết, đẹp đẽ thế nào cũng là vô nghĩa nếu không có thể xác. Trương Ba trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt cũng thế mà thôi. Ông không thể sống chỉ bằng phần hồn. Nhưng phần hồn ấy, vì những trớ trêu, éo le của số phận, lại bị nhập vào xác của tên hàng thịt. Chẳng qua đó chỉ là một cái xác “âm u đui mù” nếu không có hồn Trương Ba. Nhưng nó cũng không để cho hồn Trương Ba được yên mà còn làm ông khổ sở, đau đớn vì những đòi hỏi, ham muốn quá quắt của nó. 

4. Bài tập 4

Qua việc tìm hiểu những ví dụ đã nêu, theo anh (chị), khi sử dụng từ ngữ trong văn nghị luận cần chú ý những yêu cầu gì?

a.Sử dụng từ ngữ phù hợp, chính xác là như thế nào? Cần tránh những lỗi thường gặp nào?

  • Sử dụng từ ngữ chính xác,phù hợp với văn nghị luận và đối tượng (vấn đề)nghị luận, tránh dùng những từ lạc phong cách hoặc những từ sáo rỗng,cầu kỳ.
  • Nam Cao đã thành công trong việc xây dựng hình ảnh điển hình về người nông dân bị lưu manh hóa

  • Lời nhận xét ấy có đúng không? Đúng quá đi chứ! Nào, mời bạn cùng tôi đi phân tích  tác phẩm để hiểu rõ vấn đề! 

  • Một câu thơ lạ và gợi cảm chưa nên vội cho là xuất sắc, có một không hai; một tác phẩm xuất sắc đừng nói quá nên là vĩ đại, đối với các tác giả cũng nên đánh giá đúng mức

b. Làm thế nào để hành văn được hay, có sức biểu cảm?

  • Sử dụng hình ảnh, biện pháp tu từ, các phương tiện biểu cảm đúng chỗ, đúng mức là tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc đến với chân lí, với sự thật một cách dễ dàng hơn, đồng thời cũng gây cho họ ấn tượng sâu sắc hơn.

    Vd: Bàn về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng viết: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, mà càng nhìn thì càng sáng. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy” 

  • Người viết có niềm tin, có nhiệt tình thì lời văn sẽ là lời tâm huyết tự đáy lòng, sẽ giàu cảm xúc, nhờ đó mà dễ thuyết phục người đọc

    Vd: Hịch tướng sĩ văn (Trần Quốc Tuấn), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (Hồ Chí Minh)…

  • Lưu ý: Cần đảm bảo tính đơn nghĩa của câu văn, cần dùng từ đặt câu sao cho người đọc hiểu đúng ý mình muốn nói. Hơn nữa, không nên hiểu lệch yêu cầu truyền cảm của lời văn nghị luận thành thói khoa trương, trống rỗng. Ngoài ra tránh lạm dụng dùng hình ảnh hay những từ cảm thán một cách tràn lan làm bài văn chệch khỏi phong cách ngôn ngữ của nó

II – Cách sử dụng kết hợp các kiểu câu trong văn nghị luận

  • Với câu 1a, cần soi chiếu từng đoạn văn để nhận diện kiểu câu của mỗi câu văn theo hai tiêu chí: cấu tạo ngữ pháp và mục đích nói. Từ đó nêu lên sự khác nhau về hiệu quả diễn đạt của 2 đoạn văn. 
a. Đoạn văn 1 sử dụng toàn câu tường thuật, đoạn 2 sử dụng thêm câu hỏi, câu cảm thán. Các câu ở đoạn 1 là những câu đơn nhiều thành phần, có chung một chủ ngữ là “Trọng Thủy”, ở đoạn 2 sử dụng linh hoạt nhiều loại câu: câu đơn một và nhiều thành phần, câu ghép, câu đẳng thức, câu có thành phần phụ chú
  • Hiệu quả diễn đạt của hai đoạn văn vì thế khác nhau: nếu đoạn 1 khá đơn điệu thì đoạn 2 liền mạch, nhuần nhuyễn và gây ấn tượng hơn. 
b. Trong một đoạn văn nghị luận nên sử dụng nhiều kiểu câu khác nhau để:
  • Giọng điệu được linh hoạt, đa dạng
  • Ý tứ được diễn đạt nhuần nhuyễn, trôi chảy
  • Sức biểu cảm và khả năng gây ấn tượng đối với người đọc, người nghe được nâng cao.

c. Đoạn văn 2 sử dụng nhiều phép tu từ cú pháp:

  • Câu đơn đặc biệt: Cái chết sám hối. Cái chết trong ân hận muộn mằn. Cái chết với khao khát được chuộc lại lỗi lầm

→ Ở đây câu đơn đặc biệt ngắn gọn, cô đọng nhưng đập mạnh vào ấn tượng của người đọc.

  • Điệp ngữ: cái chết (6 lần): mạch văn như những đợt sóng, câu văn tăng tính nhịp nhàng cân đối, có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa cái chết của Trọng Thủy, làm nổi rõ thái độ vừa phán xét nghiêm khắc vừa cảm thông của người viết.
  • Liệt kê: người vợ hiền dịu, ngây thơ, hết lòng vì chồng :vừa thể hiện rõ tính cách đáng quý của nhân vật Mị Châu vừa thể hiện tình cảm của người viết.
  • Giải ngữ (phép chêm xen) : Mất Mị Châu – người vợ hiền dịu, ngây thơ, hết lòng vì chồng, chàng nhận ra…: bổ sung ý nghĩa cho “Mị Châu” đồng thời cũng thể hiện sự nuối tiếc của Trọng Thủy và niềm trân trọng đối với nhân vật Mị Châu của người viết.

d. Sử dụng phép tu từ cú pháp khiến câu văn,bài văn nghị luận có nhịp điệu ; thái độ, cảm xúc của người viết được nhấn mạnh rõ hơn; ý tứ được khắc họa rõ nét và sắc sảo hơn.

  • Một số biện pháp tu từ cú pháp thường được sử dụng trong văn nghị luận
    • Điệp ngữ: Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập. (Hồ Chí Minh)                  
    • Nhờ điệp ngữ, câu văn tăng thêm tính cân đối hài hòa, nhịp nhàng, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa, tình cảm nào đó, làm nổi bật những từ quan trọng, khiến cho lời nói trở nên sâu sắc, thấm thía, có sức thuyết phục mạnh.
    • Liệt kê: Lòng yêu nước của Tố Hữu trước hết là lòng yêu những người của đất nước, những người nông dân chịu thương chịu khó, làm nhiều mà nói ít, hiền lành mà anh dũng, giản dị mà trung hậu; bền gan, bền chí, rất dễ vui, ngay trong kháng chiến gian khổ. (Nguyễn Đình Thi)
    • Liệt kê có tác dụng nêu lên sự đa dạng, phong phú phức tạp của sự vật hiện tượng, liệt kê cũng có giá trị biểu cảm to lớn, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. 
    • Sóng đôi: Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, nội trị, ngoại giao “mở nền thái bình muôn thưở, rửa nỗi thẹn ngàn thu” (Bình Ngô đại cáo). Võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều… thắng hung tàn bằng đại nghĩa” (Bình Ngô đại cáo). Văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao…(Phạm Văn Đồng).
    • Sóng đôi làm câu văn nhịp nhàng cân đối, đọc lên có ngữ điệu trang trọng, thiết tha, náo nức đồng thời làm nổi bật lên ý tưởng chính của phát ngôn, thuyết phục người nghe người đọc tiếp nhận quan điểm của mình.
    • Câu hỏi tu từ: Này, Tổng thống Giônxơn, ngươi hãy công khai trả lời trước nhân dân Mĩ và nhân dân thế giới: Ai đã phá hoại hiệp nghị Giơnevơ, là hiệp nghị bảo đảm chủ quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãng thổ của nước Việt Nam? Phải chăng quân đội Việt Nam sang xâm lược nước Hoa Kì và giết hại người Hoa Kì? Hay là chính phủ Mĩ đã đem quân đội Hoa Kì đến xâm lược nước Việt Nam và giết hại người Việt Nam? (Hồ Chí Minh).
    • Câu hỏi tu từ là phương tiện để hấp dẫn sự chú ý, nâng cao giọng điệu cảm xúc của phát ngôn. 

 

Trên đây là một phần trích xuất nội dung từ bài giảng Diễn đạt trong văn nghị luận, để xem hết nội dung của bài giảng và các bài giảng còn lại trong BST quý thầy cô và các bạn học sinh vui lòng đăng nhập và download về máy. Bên cạnh đó, thầy cô và các bạn có thể xem thêm bài giảng tiếp theo tại đây:
Đồng bộ tài khoản