Bài giảng Sinh học 12 bài 32: Nguồn gốc sự sống

Chia sẻ: Lê Thị Thùy Giang | Ngày: | 5 bài giảng

0
1.399
lượt xem
94
download
Xem 5 bài giảng khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Bài giảng Sinh học 12 bài 32: Nguồn gốc sự sống

Mô tả BST Bài giảng Sinh học 12 bài 32

Mời các bạn bạn học sinh quý thầy cô cùng tham khảo bộ sưu tập gồm những Bài giảng Nguồn gốc sự sống được thiết kế sinh động, công phu cả về nội dung lẫn hình thức nhằm mang đến cho quý thầy cô một hiệu quả cao nhất trong giảng dạy và học tập. Nội dung bài học Nguồn gốc sự sống trình bày về thí nghiệm của Milơ chứng minh các hợp chất hữu cơ đơn giản đã hình thành như thế nào khi Trái Đất mới được hình thành, giải thích được các cơ chế nhân đôi, phiên mã, dịch mã, sự hình thành các tế bào nguyên thủy đầu tiên. Hy vọng bộ sưu tập sẽ là tài liệu hữu ích dành cho việc tự học tại nhà của các em học sinh đồng thời sẽ là tài liệu tham khảo hay cho việc thiết kế bài giảng của quý thầy cô giáo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP

Tóm tắt Bài giảng Sinh học 12 bài 32

BÀI GIẢNG SINH HỌC LỚP 12

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SỰ SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT

§32. NGUỒN GỐC SỰ SỐNG

 

I. Bản chất sự sống

1. Quan niệm về bản chất sự sống

  • Quan niệm duy tâm: Theo những nhà duy tâm thì học đã và vẫn coi sự sống là biểu hiện của nguyên lý tinh thần cao siêu và phi vật chất, là “linh hồn”, là “lực sống”,…
  • Đây là cơ sở của các tôn giáo khác nhau
  • Các quan niệm này phản ánh sự bất lực trong việc nhận thức về nguồn gốc của các năng lượng trong các hoạt động sống.
  • Quan niệm duy vật máy móc cho rằng việc nhận thức sự sống chỉ là giải thích sự sống bằng các quy luật cơ, lý, hóa học,… chung cho cả giới vô cơ và hữu cơ.
  • Quan niệm duy vật máy móc về sự sống đã từng thống trị trong suốt thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII.
  • Quan điểm này chỉ quan tâm đến sự tương tự về chức năng của hệ sống với hoạt động của máy móc mà chưa phân biệt được sự giống và khác nhau giữa sống và không sống.
  • Quan điểm duy vật biện chứng: xem sự sống là một hình thức vận động cao của các vật chất phức tạp. Sự sống vận đông theo những quy luật sinh học.
    • Theo F.Angghen: “sự sống là một hình thức vận động của vật chất, nhưng là một hình thức vận động cao của một dạng vật chất phức tạp”
    • Trong “phép biện chứng của tự nhiên” F.Angghen đã định nghĩa: “ sự sống là phương thức tồn tại của các chất anbumin bắt đầu mà yếu tố quan trọng là sự trao đổi thường xuyên xảy ra với thế giới bên ngoài chung quanh nó; khi trao đổi chấm dứt thì sự sống cũng chấm dứt và chất anbumin bắt đầu bị phân hóa”.
  • Ở trên, ta thấy có 2 điều quan trọng đó là:
    • Một là sự sống là những thể anbumin (protein), các protein này đứng riêng rẽ thì không có sự sống. Nó phải nằm trong sự tương tác với các hợp chất hữu cơ và vô cơ khác.
    • Hai là thực chất của sự vận động của vật chất sống là sự thường xuyên tự đổi mới thành phần hóa học cơ của protein → sự đổi mới tế bào thông qua quá trình trao đổi chất.
  • Đây là một điều đúng đắn bởi vì vận động gắn liền với vật chất nên chức năng và cấu trúc là thống nhất.

2. Cơ sở vật chất của sự sống là gì?

Cơ sở vật chất của sự sống

  • Ở mức độ nguyên tử thì có sự thống nhất giữa giới vô cơ và giới hữu cơ. Trong cơ thể có đến 60 nguyên tố và không một nguyên tố nào có trong cơ thể mà không có trong giới vô cơ.
  • Những nguyên tố phổ biến nhất trong cơ thể là C; H; O và N, ngoài ra còn có K; S; Na; P;… chiếm 5% còn lại là Ca, Mg, Co, Fe, Cu,…
  • Nguyên tử cacborn có thể liên kết với các nguyên tố khác hoặc với chính nó tạo ra vô số các chất hữu cơ và không có chất hữu cơ nào mà không có chứa C -> cacborn là nguyên tố cơ bản của sự sống.
  • Ở mức độ phân tử thì có sự khác biệt lớn giữa sự sống và không sống. Cơ sở vật chất của sự sống không chỉ là protein mà còn là acid nucleic và các chất photphat giàu năng lượng (ATP, ADP, CTP, UTP,…)
  • Protein có cấu trúc đa phân mà đơn phân của nó là các acid amin.Cấu trúc đa phân không chỉ tạo cho protein có sự đa dạng mà còn đặc thù cho từng loài. Ví dụ như phân tử hemoglobin, chỉ có ở động vật bậc cao mà ở thực vật thì không có.

Ở mức độ phân tử thì có sự khác biệt lớn giữa sự sống và không sống

  • Acid nucleic cũng là một đa phân mà đơn phân của nó là các nucleotid khác nhau ở các cặp bazo nitơ. Với bốn loại bazo nit A,T,G,C (đối với ADN) hoặc A,U,G,C (đối với ARN) có thể tạo ra vô số acid nucleic với thành phần, số lượng, và trật tự sắp xếp khác nhau của các nucleotid.
  • Các photphas như ADP,ATP,…có vai trò quan trọng trong sự trao đổi năng lượng è cấu trúc đa phân làm cho các phân tử vừa đa dạng vừa rất phong phú.

Phân tử ATP    Sự trao đổi năng lượng

  • ⇒ Tóm lại, ta thấy sự khác nhau giữa cấu tạo chất vô cơ và chất hữu cơ bắt đầu tự mức phân tử và đặc biệt là mức đại phân tử. Tuy nhiên, sự sống không tồn tại ở những phân tử riêng rẽ mà ở sự tương tác giữa các đại phân tử nằm bên trong hệ thống chất nguyên sinh của tế bào.

3. Sự sống có những dấu hiệu gì đặc trưng?

Những dấu hiệu gì đặc trưng

  • Trao đổi chất và năng lượng là dấu hiệu nổi bật của sự sống, không có sự trao đổi chất và năng lượng thì sự sống không thể tồn tại.
  • Bằng phương pháp nguyên tử đánh dấu người ta đã theo dõi được 50% số phân tử protein trong tế bào của người được đổi mới trong vòng 180 ngày. Sự đổi mới của các phân tử là cơ sở của sự đổi mới tế bào. Vd: như cứ 2 tháng thì 23000 tỉ tế bào hồng cầu trong máu được đổi mới hoàn toàn.
  • Sự đổi mới của các phân tử, tế bào chỉ được thực hiện khi có sự thay đổi trao đổi chất và năng lượng giữa tế bào với môi trường →tổ chức sống là tổ chức mở 
  • Bên cạnh sự trao đổi chất và năng lượng thì còn 1 số dấu hiệu khác của sự sống như là sinh trưởng, cảm ứng, vận động và sinh sản. Những dấu hiệu này đều liên quan đến sự trao đổi chất. Ở vật vô cơ cũng có thể biểu hiện sự sinh sản hoặc là vận động. Vd như từ đá mẹ vỡ thành 2 đá con. Nhưng không có vật vô cơ nào có thể biểu hiện đầy đủ các dấu hiệu của sự sống.

Sự sinh sản ở E.coli      Sinh sản ở thực vật

  • Tự sao chép là thuộc tính cơ bản của vật chất di truyền. đại đa số vật chất di truyền là phân tử ADN, một số ít virus có vật chất di truyền là ARN. Phân tử AND có khả năng tự sao đúng với các trình tự cấu trúc của nó. Nó quy định trình tự của ARN → quy định thành phần của protein (ADN → tự sao → ARN → sao mã → protein → tính trạng)

ADN     Tự sao chép

  • Cơ chế của hiện tượng di truyền ở mức độ phân tử. Sự sinh sản của cơ thể sống dựa trên cơ sở tự nhân đôi của AND là dấu hiệu độc đáo nhất của sự sống.
  • Những dấu hiệu như trao đổi chất và sinh sản đều bắt nguồn từ sự tự nhân đôi của ADN.
  • Tự điều chỉnh là khả năng duy trì sự ổn định về  cấu trúc và hoạt động tự động, nhịp nhàng. Nó có ở mọi tổ chức sống như tế bào, cơ thể, quần thể,...
  • Ngoài ra còn có tính riêng biệt của sự sống. Nó đặc trưng cho mỗi cá thể. Trong quần thể khó có thể tìm được sinh vật nào hoàn toàn giống nhau.
  • Như vậy trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản là những đặc trưng cơ bản của sự sống. trong đó dấu hiệu sinh sản chỉ có ở vật chất hữu cơ không có ở giới vô cơ. Ngoài ra các dấu hiệu như tự sao, tự điều chỉnh, tích lũy thông tin di truyền là những dấu hiệu cơ bản nhất quy định các dấu hiệu trên. 

II. Bài tập chương 2 bài 32 Sinh học 12

Tham khảo cách giải bài tập về Nguồn gốc sự sống nhằm củng cố lại kiến thức đã học:

 

Trên đây là trích dẫn 1 phần trong 5 bài giảng về Nguồn gốc sự sống. Để xem đầy đủ nội dung chi tiết và thuận tiện trong việc tham khảo các bài giảng quý thầy cố và các em học sinh vui lòng đăng nhập tài khoản và tải về máy.

Đồng bộ tài khoản