Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
132
lượt xem
3
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ

Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ
Mô tả bộ sưu tập

Thư viện eLib đã biên soạn và sắp xếp các tài liệu hay tạo thành BST Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ dưới đây để quý thầy cô và các em thuận tiện trong quá trình tham khảo. Chúng tôi mong rằng quý thầy cô và các em sẽ có thêm những tư liệu hay trong giảng dạy và học tập.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ

Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ
Tóm tắt nội dung

Bạn có thể tải miễn phí BST Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ này về máy để tham khảo phục vụ việc giảng dạy hay học tập đạt hiệu quả hơn.

Phiên âm chữ Hán:

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm,
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Dịch nghĩa:

Sương móc trắng xoá làm tiêu điều cả rừng cây phong,
Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt.
Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời,
Trên cửa ái,mây sa sầm giáp mặt đất.
Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước.
Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ.
Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét,
Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập.

Dịch thơ:

Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu loà.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.

(Nguyễn Công Trứ dịch)

Đỗ Phủ tên chữ là Tử Mỹ, hiệu là Thiếu Lăng, người huyện Củng, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho giáo và thơ ca lâu đời. Thuở trẻ ông cũng đi thi nhưng không đỗ đạt gì. Hầu như suốt đời ông sống trong cảnh đói nghèo và bệnh tật. Tuy vậy, ngọn lửa đam mê văn chương trong lòng ông không bao giờ tắt. Đỗ Phủ để lại cho đời hàng ngàn bài thơ có nội dung phong phú, sâu sắc, phản ánh sinh động những sự kiện lịch sử thời ông đang sống và chan chứa lòng yêu nước, thương đời. Với những đóng góp to lớn cho nền thi ca Trung Hoa nói riêng và nhân loại nói chung, Đỗ Phủ đã được tổ chức UNESCO công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới.

Bên cạnh những bài thơ được coi là thi sử (lịch sử bằng thơ), Đỗ Phủ còn sáng tác nhiều bài thơ trữ tình thể hiện cảm xúc chân thành của mình trước thiên nhiên, con người và cuộc đời. Trong những bài thơ đặc sắc có bài “Thu hứng” (Cảm xúc muà thu). Đây là bài thứ nhất trong chùm tám bài được Đỗ Phủ sáng tác năm 766, khi ông cùng gia đình đang phải sống phiêu dạt ở Quý Châu. Tứ Xuyên là vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, cách xa quê hương nhà thơ mấy ngàn dặm. Sau mười một năm kể từ khi bùng nổ loạn An Lộc Sơn, tuy loạn đã dẹp xong nhưng đất nước kiệt quệ vì chiến tranh và nhà thơ vẫn phải lưu lạc nơi đất khách quê người. Hoàn cảnh ấy đã khơi gợi cảm xúc bi thương là cảm xúc chủ đạo của bài “Thu hứng”.

Bài thơ này vừa là bức tranh phong cảnh mùa thu ảm đạm, hắt hiu, vừa là bức tranh tâm trạng trĩu nặng u sầu của Đỗ Phủ trong cảnh loạn ly. Ông lo cho vận nước đang cơn bĩ cực và ngậm ngùi xót xa cho thân phận bất hạnh của mình nơi đất khách quê người.
Cấu truc 1bài thơ chia làm hai phần khá rõ : Bốn câu đầu (đề và thực) là bức tranh mùa thu ở vùng rừng núi thượng nguồn Trường Giang. Bốn câu sau (luận và kết) phản ánh cảm xúc của thi nhân trước khung cảnh mùa thu nơi đây. 

Chúc quý thầy cô và các em học sinh có BST Bình giảng bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ hay mà mình đang tìm.
Đồng bộ tài khoản