Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây mùa thu tới: Rặng liễu...dệt lá vàng

Chia sẻ: An | Ngày: | 2 tài liệu

0
117
lượt xem
0
download
Xem 2 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây mùa thu tới: Rặng liễu...dệt lá vàng

Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây mùa thu tới: Rặng liễu...dệt lá vàng
Mô tả bộ sưu tập

Mùa thi đang cận kề, với mong muốn hỗ trợ cho quý thầy cô và các em trong công tác giảng dạy và ôn tập, thư viện eLib đã chọn lọc những bài văn hay tạo thành bộ sưu tập "Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây mùa thu tới: Rặng liễu...dệt lá vàng" để giáo viên và học sinh thuận tiện khi tham khảo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây mùa thu tới: Rặng liễu...dệt lá vàng

Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đây mùa thu tới: Rặng liễu...dệt lá vàng
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo đoạn "Bình giảng khổ thơ: Rặng liễu...dệt lá vàng trong bài Đây mùa thu tới" được trích từ bộ sưu tập cùng tên dưới đây:
 

Ai nấy đều biết rằng, trong Đây mùa thu tới, Xuân Diệu đã nhận vào hồn mình thông điệp của mùa thu, không phải từ một chiếc lá ngô đồng rụng, hay mấy chùm cúc nở trước giậu phía đông nhà, mà từ dáng buồn của những nhành liễu rủ. Và tấm áo thu, với sắc mơ phai, cảm xúc của thi nhân như dược dệt nên bởi những sợi vàng tơ liễu.

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới- mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.

Tác giả Vũ Quần Phương bình giảng: Thơ thu mở đầu bằng liễu cùng là ước lệ của văn chương một thời, không phải là một khám phá gì mới mẻ. Cây liễu không nhiều ở nước ta, nhưng lại nhan nhản trong thơ cổ bên Tàu. Cảm xúc của Xuân Diệu đã bị định hướng từ ảnh hưởng của văn chương cổ nên mới chọn liễu để vào bài.
Dù ở những câu viết tiếp sau, tác giả còn phân biệt liễu trong khổ thơ này với liễu trong thơ Đường, Tống – một sự phân biệt kể ra cũng còn rất đáng phân vân – nhưng ý kiến của người bình thơ đã rõ: tứ liễu thu của Xuân Diệu đã được định hướng bởi truyền thống thơ ca cổ điển phương Đông. Phải chăng, với cách cảm thụ như trên, chúng ta đã bắt được trúng hồn phách của những vần thơ Xuân Diệu?
Quả đúng là không dễ gì đếm được đã có bao nhiêu tơ liễu từng in bóng xuống những trang thơ của cổ nhân. Thi phật Vương Duy, Thi tiên Lí Bạch, Thi thánh Đỗ Phủ, Thi thiên tử Vương Xương Linh, và ở ta là Nguyễn Du bất tử, không một ai không để lại cho đời những dòng thơ về liễu đẹp tuyệt vờị.
Nhưng hi vọng tôi sẽ không quá sai khi nói rằng trong thơ cổ của người Trung Hoa và người Việt, liễu vốn là biểu trưng của mùa xuân chứ không phải mùa thu (Dương Tử giang đầu dương liễu xuân – Trịnh Cốc trong Hoài thương biệt hữu nhân) và thường vẫn hiện ra với sắc xanh nhiều hơn là với màu vàng (Khách xá thanh thanh liễu sắc tân — Vương Duy trong Tống Nguyên Nhị sử An Tây). Người xưa hay bẻ liễu trao nhau lúc tiễn đưa, và bởi đó mà thơ xưa, những nhánh liễu xanh hay nhuốm mối sầu li biệt. Nhưng cũng ở thơ xưa, đã vào nơi không có gió xuân thì chiếc sáo Khương kia sẽ không còn lí do để réo rắt bài Bẻ liễu (Vương Chi Hoán, Lương Châu Từ). Vả chăng chưa có hơi xuân, liễu cũng không thể buông tơ (Trương Kính Trung, Biên từ), còn khi thu đến, gốc liễu cằn nhiều khi lại chỉ còn trơ có cội già (Truyện Hoa Tiên).
Khi nói những chuyện trên đây, không phải tôi đã quên trong Kiều có câu thơ Hoa trôi dạt thắm, liễu xơ xác vàng. Song, thứ nhất câu thơ vừa dẫn không hề có liên quan gì đến bức tranh phong cảnh mùa thu, mà liễu vàng cũng chỉ xuất hiện có một lần trong suốt cả cuốn Kiều. Và thứ hai, dường như trong truyền thống thẩm mĩ của cổ thi, liễu đã xác xơ vàng thì liễu cũng không còn vẻ nên thơ của liễu. Liễu vặng, liễu đã thôi xanh, thì cũng chẳng khác gì hoa hết thắm, đâu còn có thể làm nên vẻ thơ mộng của một tấm áo thu?

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;

Vậy nên ít có căn cứ tin rằng Xuân Diệu đã đặt lạc một thi tứ Đông phương ngay vào giữa một tựa đề được viết khá Tây phương: Đây mùa thu tới và những câu thơ đặt theo một lối còn có vẻ Tây hơn nữa: Hơn một loài hoa đã rụng cành. Không, có lẽ liễu trong khổ thơ này không thuộc dòng xuân liễu của thơ Tống, thơ Đường, như tác giả Thơ với lời bình xác định.

Hình như nó về với thơ ca của xứ sở này từ một phương trời văn hóa khác hơn. Phía tây kia mới là nơi có nỗi buồn liễu rủ và sắc thu vàng, hợp với “mô-đen” của Đây mùa thu tới. Trong thơ của ta xưa, tơ liễu buông mành, tơ liễu thướt tha thường không phải là hình ảnh của nỗi buồn. Nhưng nàng Ôphêlia của Sêchxpia, trong cực điểm đớn đau, đã tìm đến một cành liễu, buông mà treo vòng hoa mê điệt. Và V. Huygô, trong Đêm đại dương, khi bày tỏ niềm xót thương cho những con người phải chết âm thầm, những con người mà nấm mồ đã phải khép mi họ lại trong sự lãng quên của nhân thế, đã viết rằng không một cây liễu biết chuyện tang tóc ấy để vì nó trút lá thu.

Để tham khảo thêm nhiều bài bình giảng quý thầy cô và các em cùng download BST nhé (hoàn toàn miễn phí)!

Đồng bộ tài khoản