Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
17
lượt xem
0
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc

Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc
Mô tả bộ sưu tập

Nhằm giúp quý thầy cô giáo có thêm tài liệu để giảng dạy, các em học sinh có thêm tài liệu hay để tham khảo, Thư viện eLib đã sưu tầm và tổng hợp thành bộ sưu tập Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ Văn trong chương trình.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc

Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc
Tóm tắt nội dung

Mời bạn tham khảo đoạn trích trong BST Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc của thư viện eLib dưới đây:

trên thi đàn Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XIX. Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế đã lập nên hao công nghiệp hiển hách, khi về trí sĩ biết gác bỏ danh lợi mà sinh hoạt trong cảnh an nhàn.
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) và Cao Bá Quát (1808 – 1855) là hai nhà thơ lớn nhất trên thi đàn Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XIX. Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang tế thế đã lập nên hao công nghiệp hiển hách, khi về trí sĩ biết gác bỏ danh lợi mà sinh hoạt trong cảnh an nhàn.
Ông để lại một sô’ bài thơ chữ Hán, trên 50 bài thơ Nôm, trên 60 bài hát nói và bài phú Hàn nho phong vị phú bằng chữ Nôm. Thơ văn Nguyễn Công Trứ “ý tứ mạnh mẽ, từ điệu rắn rỏi, khiến cho người đọc cũng thấy phấn khởi, hăng hái lên” (Dương Quảng Hàm).
Thời trai trẻ, chật vật trong cảnh nghèo, lận đận trong thi cử, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở công danh sự nghiệp, mãi đến năm 42 tuổi mới đỗ giải Nguyên. Đi thi tự vịnh là một bài thơ ứng tác được Nguyễn Công Trứ viết vào thuở hàn vi, trước lúc bước vào trường thi, đua tài đọ trí với các sĩ tử trong khoa thi Hương trường Nghệ An.
Đi thi tự vịnh là một trong nhiều bài thơ nói về chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ.
Hai câu để thể hiện một quyết tâm, một niềm tin của kẻ sĩ trước lúc bước vào hội công danh:

Đi không há lẽ trở về không,
Cái nợ cầm thư phải trả xong.

“Đi không” – lúc lên đường ứng thí, “không” công danh. Vào trường thi chỉ có một văn tài, một bản lĩnh đua tranh, như cá chép vượt Vũ Môn, tác giả tự tin khẳng định: “há lẽ trở về không”. Chữ “không” thứ 2 là không công danh, không sự nghiệp. Chữ “không” thứ 7 là trắng tay, chẳng đỗ đạt gì ! Hai chữ “há lẽ” vang lên như một sự thách thức. “Nợ cầm thư” là nỢ đàn sách của sĩ tử ngày xưa. Ni.í cầm thư cũng như nỢ hút nghiên, nợ đèn sách. “Cầm thư” đã trở thành “cái nợ” vì thế có nghĩa vụ phải trả, phải hoàn thành xong xuôi, sòng phẳng. Tiếng “cái” trong “cái nợ cầm thư” nói lên sức nặng, cái giá ghê gớm của nợ đèn sách, nợ công danh. Câu thơ thứ 2 “Cái nợ cầm thư phải trả xong” với 4 thanh trắc (cái, nợ, phải, trả) làm cho thanh điệu của câu thơ trĩu xuống, 3 thanh hằng (cầm, thư, xong), giọng điệu của câu thơ thanh thoát, nhẹ nhàng. Câu thơ toát lên một sự đĩnh đạc, hào hùng và phơi phới. Đó là sĩ khí của tác giả trước khi bước vào cuộc đọ trí đua tài. Một sĩ tử có tài năng đích thực mới có sự thách thức và niềm Lự tin mạnh mẽ như vậy.
Hai câu trong phần thực, 4 tiếng Hán Việt: Điền viên tuế nguyệt, thân thế, tang bồng – được đặt trong thế đối xứng, hài hòa, ý thơ trở nên trang trọng. Thời trai trẻ Nguyễn Công Trứ đã mấy phen nếm cay đắng trong chốn trường thi. ‘Thi không ăn ớt thế mà cay” (Tú xương). Có lẽ vì thế đã có lúc, tác giả “Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt”, lấy ruộng vườn vui với năm tháng. Nhưng đã trót, đã “Dở đem thân thế hẹn tang bồng. Tang bồng là cung bằng gỗ dâu, lên bằng cỏ bồng, tượng trưng cho chí lớn, sức mạnh vẫy vùng, tung hoành khắp thiên hạ, ôm hoài bão giúp nước, cứu đời. ở trên đã nói đến “nợ cầm thư”, ở dưới lại nói “tang bồng”, tính hệ thống của ngôn ngữ đã làm hiện lên một tâm thế rất đẹp của một kẻ sĩ mang chí nam nhi, mang nợ tang bồng muốn thi thố tài năng với đời. Trong thơ, Nguyễn Công Trứ nhiều lần nhắc đến “nợ cầm thu, chí tang bồng, chí nam nhi” với tất cả niềm tự hào và niềm vui phơi phới:

– Chí tang bồng hẹn với giang san,
Đường trung, hiếu, chữ quân thân lù gánh vác.
– Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong,
Cầu xe ngựa lúc đi về mới tỏ….
(Nợ tang bồng). 

Hy vọng rằng BST Bình giảng một bài thơ thất ngôn bát cú mà em thuộc sẽ giúp quý thầy cô có thêm tư liệu tham khảo, giúp các em học sinh học tập tốt hơn.
Đồng bộ tài khoản