Các di tích ở Huế

Chia sẻ: Giàng Thị Thúy Vi | Ngày: | 5 giáo án

1
1.212
lượt xem
440
download
Xem 5 giáo án khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Các di tích ở Huế

Mô tả BST Các di tích ở Huế

Quần thể di tích Cố đô Huế có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong Kinh thành Huế.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP

Tóm tắt Các di tích ở Huế

Văn Thánh

Văn Miếu hay Văn Thánh là cách gọi tắt của một ngôi miếu: Văn Thánh Miếu,

ngôi miếu thờ vị Thánh về văn- người được hậu thế tôn vinh là Vạn Thế Sư Biểu

(người thầy của muôn đời): Khổng Tử.



Ngôi miếu này thường có nhiều tên gọi khác: Tiên Sư Miếu, Khổng Tử Miếu, Chí

Thánh Miếu, hoặc có nơi gọi là Chí Thánh Tiên Sư Miếu. Tất cả các nước có nền

văn hóa Hán và coi trọng Nho học đều có lập Văn Miếu để thờ đức Khổng Tử.


Danh xưng Khổng Tử có thể hiểu là thầy Khổng. Ông họ Khổng tên Khâu, sinh

năm 551 trước Công Nguyên tại nước Lỗ, phía Nam tỉnh Sơn Đông của Trung

Quốc ngày nay. Ông là một nhà Nho được tôn vinh lên ngang hàng các bậc Thánh

vì ông là một nhà giáo dục vĩ đại. Tinh thần sáng tạo độc đáo trong kiến giải văn

hóa Đông phương của Khổng Tử đã được những học trò và những người nối chí

ông tiếp tục phát huy và truyền từ đời này sang đời khác. Vì lẽ đó, Khổng Tử có

một vị trí hết sức đặc biệt trong hệ thống triết lý của Trung Quốc, trở thành người

sáng lập một học phái mới mang tên Nho gia, dung hòa được tất cả các mối quan

hệ xã hội trên cơ sở của tính nhân văn cao đẹp.



Ở Trung Quốc, từ thời Xuân Thu khi Khổng Tử vừa mất, vua nước Lỗ đã cho lập

miếu thờ ông ở Khúc Phụ. Triều Tiên và Nhật Bản đều có Văn Miếu thờ Khổng
Tử với quy mô rộng lớn, song thời điểm thiết lập muộn hơn. Ở nước ta, việc lập

miếu thờ đức Khổng Tử sớm nhất được sử sách ghi lại là vào năm Canh Tuất

(1070) dưới triều Lý. Vua Thánh Tôn nhà Lý cho lập Văn Miếu, đắp tượng Khổng

Tử cùng các học trò của ông là Chu Công, Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử để

thờ. Văn Miếu này được xem là nơi thờ Khổng Tử đầu tiên của nước ta.

Các triều đại kế tiếp như Trần, Hồ rồi Hậu Lê vẫn duy trì miếu thờ Khổng Tử của

nhà Lý. Đến thời vua Lê Thánh Tôn bắt đầu cho dựng bia ghi tên Tiến sĩ, khởi đầu

từ khoa thi dưới triều vua Lê Thái Tôn. Tổng số bia còn đến hiện nay là 83 tấm.

Dưới triều Nguyễn công trình mang tính điển lễ này vẫn được bảo quản giữ gìn, và

vì Thăng Long Hà Nội không còn là kinh đô nên nơi đây trở thành Văn Miếu riêng

của Hà Nội.



Trong thời kỳ các chúa Nguyễn mở mang khai phá phương Nam, Văn Miếu cũng

được thiết lập ở Phú Xuân và được xem như Văn Miếu riêng của Đàng Trong,

nhưng không rõ thời điểm xây dựng, chỉ biết địa điểm tại làng Triều Sơn. Đến

năm Canh Dần (1770) dưới triều của Định Vương Nguyễn Phúc Khoát, Văn Miếu

được dời đến xã Long Hồ.



Đến khi nhà Nguyễn gây dựng cơ đồ, Văn Miếu của cả triều đại và cũng là của

toàn quốc lúc này mới được chính thức xây dựng ở địa điểm hiện nay, vào năm

1808 dưới triều vua Gia Long. Ngôi miếu cũ được giữ lại để làm Khải Thánh Từ

(tức miếu thờ cha mẹ của Khổng Tử). Với sự tôn trọng Nho học, miếu mới được
xây dựng uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình,

làng An Ninh, phía Tây Kinh Thành.



Từ cổng Đại Thành Môn nhìn vào, ngay chính giữa là ngôi đại điện thờ Khổng

Tử, tên gọi là Đại Thành Điện. Những tên gọi này thống nhất cho tất cả Văn Miếu

ở trung ương và địa phương, kể cả những Văn Miếu ở Trung Quốc, Triều Tiên,

Nhật Bản... những công trình tương tự như vậy đều có tên gọi như nhau.




Điện Đại Thành là kiến trúc trọng yếu của Văn Miếu, toàn bộ được dựng trên

một nền cao, dài chừng 32m, rộng 25m. Cấu trúc của ngôi đại điện theo lối trùng

thiềm điệp ốc truyền thống của Huế. Ở hai bên trước điện Đại Thành, dựng hai

ngôi nhà đối diện nhau là Đông Vu và Tây Vu đều bảy gian.




Trước sân miếu, người ta kiến thiết hai nhà bia gọn gàng xinh xắn, bên phải có

tấm bia khắc bài văn bia ”Thánh Tổ Nhân Hoàng đế dụ: Cung giám bất đắc liệt tấn

thân” (Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng) dụ về việc Thái Giám không

được liệt vào hạng quan lại); bia ở nhà bia bên trái khắc bài văn bia “Hiến Tổ

Chương Hoàng đế dụ: Ngoại thích bất đắc thân chính” (Hiến Tổ Chương Hoàng

đế (vua Thiệu Trị) dụ về việc bà con bên ngoại của vua không được tham gia

chính quyền).
Ra khỏi cổng Đại Thành của Văn Miếu, bên trái có xây Hữu Văn Đường; bên

phải xây Dị Lễ Đường. Đây là những ngôi nhà kiểu một gian hai chái dùng để vua

quan nghỉ chân sửa soạn lễ phục trước khi vào tế ở Miếu. Phía trước là hai dãy

gồm 32 tấm bia, khắc tên 293 vị Tiến sĩ triều Nguyễn, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên

năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng vào năm Khải Định thứ 4

(1919).




Trước cổng Văn Miếu, gần bờ sông lại có cửa Linh Tinh Môn gồm bốn trụ xây

bằng gạch, phần trên trang trí pháp lam. Tấm biển ở giữa phía trước có đề bốn chữ

Hán lớn “Đạo Tại Lưỡng Gian” (đạo giữa trời đất); mặt sau đề bốn chữ Hán tương

đương “Trác Việt Thiên Cổ” (vượt cao ngàn xưa). Hai bên khu vực trước cổng

Văn Miếu có tấm bia “Khuynh cái hạ mã” (nghiêng lọng xuống ngựa).




Văn Miếu được xây dựng ngoài việc thờ Khổng Tử còn thờ bốn người gọi là Tứ

Phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử, cùng Thập Nhị Triết. Đông Vu và

Tây Vu gồm 14 án, thờ các Tiên Hiền và Tiên Nho, những người có công trong

việc phát triển đạo Nho.




Đối với việc thờ phụng, triều Nguyễn cho lập bài vị bằng gỗ (còn gọi linh vị,

mộc chủ, thần chủ) để thờ và buộc tất cả các địa phương nơi nào thờ Khổng Tử
bằng hình tượng đều phải thay thế bằng bài vị mộc chủ, còn các tượng thì phải lựa

chọn nơi sạch sẽ chôn đi. Đây là một cách nhìn khá đặc biệt của triều Nguyễn. Họ

cho rằng thờ bằng hình tượng là thiếu trang trọng, thiếu lễ độ đối với người đã

khuất, cho nên ngay cả bàn thờ các vua Nguyễn cũng không hề thờ bằng hình

tượng.




Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Văn Miếu bị tàn phá nặng nề. Gần đây,

Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn di tích

này, những tấm bia đã được dựng lại ngay ngắn và làm nhà bia che chắn. Văn

Miếu không còn nét hoang tàn đổ nát như trước. Song, những điều làm được vẫn

còn quá ít cho một di tích mang nét văn hóa hết sức độc đáo và đậm bản sắc của

người Việt Nam như Văn Miếu Huế.




Văn Miếu là một biểu tượng độc đáo của nền giáo dục nước ta trong giai đoạn

vương quyền phong kiến thống trị. Việc lập Văn Miếu và dựng bia Tiến sĩ nhằm

nhắc lại cụ thể sự tôn trọng việc học, đề cao nhân tài của đất nước và những truyền

thống tốt đẹp của dân tộc. Để từ đó mọi tầng lớp nhân dân thấy rằng, ai cũng có

thể tiến thân bằng con đường học vấn, một nền học vấn không phân biệt giai cấp

và đề cao đức hạnh. Nho học đã trở thành đạo chung cho nước nhà.
Ngày nay, Văn Miếu Huế đã trở thành một di tích đánh dấu thời kỳ thịnh trị nhất

của Nho giáo- thời kỳ vương triều Nguyễn dùng Nho học làm phương tiện trợ giúp

đắc lực để thiết lập quyền thống trị trên toàn đất nước. Nho giáo tuy không còn là

quốc đạo nhưng những tư tưởng về đạo đức và lối sống của nhà Nho, kết hợp với

bản sắc văn hóa truyền thống đã kết tinh thành nền tảng vững chắc trong đời sống

tinh thần của người Việt Nam hôm nay.
Đồng bộ tài khoản