Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
54
lượt xem
1
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh
Mô tả bộ sưu tập

Các tài liệu hay, chất lượng được chúng tôi tổng hợp tạo thành BST Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh dưới đây sẽ giúp các em học sinh ôn tập và mở rộng kiến thức khi học Ngữ Văn. Thư viện eLib kính chúc quý thầy cô giảng dạy hay, các em học tập tốt.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh

Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh
Tóm tắt nội dung

Dưới đây là phần trích dẫn nội dung của tài liệu đầu tiên được lấy ra từ BST Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh.

Mộ (Chiều tối) là một bài thơ tứ tuyệt Đường thi của Hồ Chí Minh trong tập Nhật ký trong tù. Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh Hồ Chí Minh bị áp giải trên đường từ nhà lao này đến nhà lao khác của Tưởng Giới Thạch. Bài thơ này là bài số 31, trước là bài 29 “Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo” (Tết song thập bị giải đi Thiên Bảo) và bài 30 “Tẩu Lộ” (Đi đường), sau là bài 32 “Dạ túc Long Tuyền” (Đêm ngủ ở Long Tuyền) và bài 33 “Điền Đông” (Điền Đông). Long Tuyền là tên huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, một địa điểm giữa Thiên Bảo và Điền Đông. Như vậy, bài thơ này Hồ Chí Minh viết trên hành trình chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, từ Thiên Bảo đến Điền Đông. Có thể nói, đây là một bài thơ tức cảnh đặc sắc của Hồ Chí Minh. Bài thơ có cấu trúc song hành tương ứng, hai câu đầu là cảnh hoạt động của sự vật, hai câu sau là cảnh sinh hoạt của con người:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
(Nam Trân dịch)
Bài thơ tả cảnh rừng núi trong buổi chiều tối. Hai câu đầu là khung cảnh thiên nhiên trên cao với hai đối tượng đang hoạt động là cánh chim và chòm mây. Cảnh này có buồn không? Có ý kiến cho cảnh này là buồn và tác giả cũng buồn. Chiều tối là thời gian quy tụ, nghỉ ngơi của loài vật cũng như con người. Chim bay có vẻ mệt mỏi nhưng là cánh chim bay có hướng, có mục đích, nó đang bay về nơi cái tổ của nó là cây cổ thụ trong rừng kia. Nó khác với cánh chim bay vô định trong bài Tràng Giang của Huy Cận: “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”.
Đám mây đang từ từ trôi chậm chạp về bên kia chân trời, từ điểm này sang điểm khác trên bầu trời, tuy có vẻ lửng thửng chậm chạp nhưng cũng là hoạt động có hướng. Cánh chim bằng ấy cả ngày bay lượn tìm mồi thì đương nhiên chiều tối phải mệt mỏi nhưng vẫn cố bay về nơi nó trú ngụ, nơi tổ ấm của nó. Phải có cái nhìn cảm thông, chia sẻ với vạn vật, cái nhìn tinh nhạy nhà thơ mới thấy cánh chim kia đang mỏi và chòm mây kia đang lửng thửng trôi. Có vất vả, mệt mỏi nhưng chưa hẳn đã buồn bởi những ai làm việc có mục đích thì người ta vẫn thấy hạnh phúc. Điều quan trọng là qua hình ảnh cánh chim và chòm mây, Hồ Chí Minh ngầm gửi gắm tâm trạng của mình. Chim và mây dù vất vả mệt mỏi nhưng đều bay về nơi mình muốn đến còn ta thì vẫn đang nơi đất khách quê người, đang nặng nề lê bước đến nơi tù đày giam hãm chứ không được hạnh phúc như cánh chim và chòm mây kia có nơi chốn để đi về!
Hai câu thơ sau là cảnh sinh hoạt của con người. Hai câu trên là không gian trên trời khi về chiều còn hai câu này là không gian dưới mặt đất lúc chiều đã dần chuyển vào màn đêm. Hai câu thơ này đã không dịch đúng tinh thần của nguyên tác, thậm chí đã dịch thừa một chữ “tối” không có trong nguyên tác. Câu thơ dịch đã không làm nổi bật vòng quay của cối xay ngô để thấy sự lao động vất vả của cô thôn nữ. GS. Trần Đình Sử trong cuốn Phân tích và bình giảng tác phẩm văn học lớp 12, Nxb Giáo dục, 1996, tr. 10 đã dịch lại sát nguyên tác:
Cô em xóm núi xay ngô hạt
Ngô hạt xay xong bếp đã hồng
Cách miêu tả hai câu đầu và hai câu cuối khác nhau. Hai câu cuối là một thể thống nhất về hình ảnh lao động của cô gái xóm núi. Hai câu cuối thể hiện sự làm việc miệt mài của cô gái và Hồ Chí Minh nhìn với niềm cảm thông sâu sắc. Sự lao động vất vả của cô gái cũng giống như cánh chim và chòm mây kia nhưng là việc làm đầy ý nghĩa, đáng trân trọng. Vòng quay đều đặn, miệt mài của cối xay ngô cũng là vòng quay của thời gian từ khi trời chưa tối đến lúc trời tối. Trời có tối thì mới thấy lò than rực hồng. Sự chuyển cảnh hai câu thơ đầu sang hai câu thơ sau có vẻ đột ngột, mau lẹ, đang cảnh mông lung trên bầu trời đã quay sang cảnh dưới mặt đất. Liệu chúng có liên hệ gì với nhau? Khi Hồ Chí Minh nhìn thấy cảnh vật đang về chiều, cánh chim kia đang bay về tổ ấm, con người cũng về nhà sum họp trong cảnh sinh hoạt đầm ấm thì tâm trạng của Người cũng nhớ về quê hương gia đình. Lẽ tự nhiên, Hồ Chí Minh sẽ hướng cặp mắt tìm nơi có cuộc sống sinh hoạt của con người và Người bắt gặp cảnh sinh hoạt của một gia đình xóm núi. Cô gái xóm núi này cũng xay ngô một mình. Việc cô gái xay ngô xong thì cũng là lúc bóng tối ập đến nhưng ánh sáng lại bừng lên ấm áp, xua tan cái tối tăm, lạnh lẽo, hoang vắng của cảnh núi rừng. Chữ “hồng” là nhãn tự của bài thơ, nó có tác dụng chuyển cảnh từ tối sang sáng, từ lạnh lẽo sang ấm áp. Đó là từ khóa của bài thơ và cũng từ mở ra của tứ thơ. Ánh lửa hồng là ánh sáng của niềm tin, của hạnh phúc. 

Quý thầy cô giáo và các em học sinh có thể tham khảo đầy đủ tài liệu này và xem thêm các tài liệu khác trong bộ sưu tập Cấu trúc song hành và liên tưởng trong bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh. Hoặc download về làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác dạy và học ngày càng hiệu quả.
Đồng bộ tài khoản