Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng

Chia sẻ: An | Ngày: | 2 tài liệu

0
691
lượt xem
9
download
Xem 2 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng

Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng
Mô tả bộ sưu tập

Các em còn gặp nhiều lúng túng khi viết văn? Bộ sưu tập Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng dưới đây sẽ giúp các em có thêm nhiều ý tưởng, biết lập dàn bài, nắm được các hình ảnh, chi tiết độc đáo để đi sâu vào chứng minh các chi tiết trọng tâm, tránh lạc đề. Chúc các em có bài văn đạt điểm cao.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng

Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng
Tóm tắt nội dung

Đây là một đoạn trích hay trong BST Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng. Mời quý thầy cô tham khảo:
 

Có thể nói, Nguyễn Đình Chiểu là bậc đại gia của thể loại văn tế thơ điếu nửa cuối thế kỷ XIX. Trong chùm văn tế thơ điếu để đời của ông (ba bài văn tế nghĩa sĩ và ba chùm thơ điếu liên hoàn – chùm 12 bài, chùm 10 bài và chùm 2 bài - dành cho ba nhân vật Trương Định, Phan Tòng, Phan Thanh Giản) thì Tế Cần Giuộc sĩ dân trận vong văn nổi bật hơn cả, đặc biệt là về kết cấu và ý nghĩa tư tưởng.
1. Năm 1861, đối với công cuộc giữ nước của nhân dân miền Nam những ngày đầu người Pháp chính thức đổ bộ, mang một ý nghĩa lịch sử quan trọng. Đó là năm đại đồn Kỳ Hòa - chiến tuyến vững chắc kiên cường nhất của triều đình Huế ở Nam Kỳ bị quân xâm lược chọc thủng sau hai năm xây dựng và ra sức chiến đấu. Thất bại quân sự to lớn vào đầu năm 1861 (tháng 2/1861) này có ý nghĩa đánh dấu giai đoạn chuyển hướng của triều đình từ chiến lược “quyết đánh” sang sách lược kết hợp vừa thương thuyết vừa đánh du kích cầm chừng, cũng chính là thời điểm bắt đầu nảy sinh hai luồng tư tưởng đối nghịch chủ hòa - chủ chiến. Cũng từ đây, cuộc kháng chiến chống xâm lăng trở nên “một tính cách thực sự nhân dân” (1). Bốn tháng sau khi Kỳ Hòa thất thủ, Trương Định tổ chức cuộc tập kích Gò Công, khiến cho người Pháp không thể không thấy “sự thật hiển nhiên: một ý thức độc lập quốc gia vẫn tồn tại trong dân chúng Annam” (2). Trận tấn công đồn Cần Giuộc của các nghĩa sĩ vào những ngày cuối năm 1861 (ngày rằm tháng Một Tân Dậu) chính là tiếp nối “tính cách nhân dân” của cuộc kháng chiến. Cũng giống như trận Gò Công, ở trận Cần Giuộc, nghĩa binh sau khi uy hiếp tinh thần quân giặc đã chịu tổn thất không nhỏ và phải lui quân. Trận Cần Giuộc không phải là trận chiến đấu chống xâm lược Pháp đầu tiên, cũng không phải là chiến công đáng kể nhất trong ngày đầu đánh giặc song bài văn tế lại là tác phẩm văn học Nôm sớm nhất ghi giữ được chân dung người nghĩa binh chân đất hy sinh oanh liệt cho đất nước. Như vậy, hoàn cảnh sáng tác của bài văn tế rất có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu giá trị thời sự - hiện thực của văn chương Nguyễn Đình Chiểu cũng như đối với việc đánh giá thực chất tinh thần kháng chiến của triều đình Nguyễn, tránh lối nói chung chung một chiều từng tồn tại trong nhiều năm như “triều đình hèn nhát đầu hàng giặc…”, “triều đình bạc nhược, phản động dâng đất cho giặc…”…

2. Chân dung người nghĩa binh nhân dân gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc người nghe ngay từ câu mở đầu của bài văn: “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Câu văn tứ tự mang ý nghĩa khái quát cả bối cảnh thời đại và chân dung tinh thần của người nghĩa binh Cần Giuộc. Chỉ với hai vế câu ngắn gọn mà cô đúc đặt trong thế đối ngẫu “súng giặc” – “lòng dân”, tác giả đã định hướng cho chúng ta tâm điểm của hình tượng chính. Toàn bộ kết cấu, ngôn từ của bài văn tế đều tập trung thể hiện cái tâm điểm “lòng dân” đó trong hoàn cảnh thử thách ác nghiệt nhất – giặc đến nhà. Chữ nghĩa của cụ Đồ Chiểu giản dị nôm na mà cực kỳ sâu sắc: đối chọi với kẻ ngoại xâm hùng mạnh vũ khí áp đảo lấn lướt, người dân Việt lúc đó chỉ có một tấc lòng yêu nước thấu trời. Đối với bài học chiến tranh giữ nước, phải chăng tư tưởng này không chỉ đơn thuần là tụng ca mà còn bao hàm cả bi ca và những ý tứ sâu xa muốn phân tích tranh luận? Vận dụng lối đối ngẫu quen thuộc của thể phú Đường luật cũng như tuân thủ thi pháp truyền thống trong một mệnh đề chắc nịch súc tích vừa mang giá trị tượng trưng cao lại vừa đậm hơi thở hiện thực, cụ Đồ Chiểu đã phác họa thật sắc nét chân dung bi hùng một thời đại đau thương của dân tộc. Bài văn tế gồm 29 câu (có bản chép 30 câu) theo lối độc vận, theo bố cục thông thường, có thể được chia làm bốn phần Lung khởi – Thích thực – Ai vãn – Kết. Nhưng thực tế, hai phần Thích thực và Ai vãn ở đây không có ranh giới rõ rệt lắm, những hồi tưởng về công đức và chân dung các nghĩa sĩ cứ triền miên trăn trở từ câu thứ ba “Nhớ linh xưa…” cho đến tận những câu Kết. Lời khóc thương cùng “nhân vật phông nền” (dân chúng, đất trời, mẹ già, vợ yếu…) đan xen vào giữa có giá trị tôn tác ngời sáng tâm điểm “lòng dân”. Trong những hình ảnh đầu tiên về người nghĩa binh nhân dân, cái làm xúc động lòng người trước hết chính là cái Thật. Cụ Đồ Chiểu đã “kể” rất thật về nguồn gốc, lai lịch, thân phận của những người tham gia trận công đồn cuối năm 1861 đó:
Nhớ linh xưa: Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó

Quý thầy cô giáo và các em học sinh cùng tham khảo toàn bộ BST Chứng minh rằng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng bằng cách đăng nhập vào Website eLib.vn nhé!

Đồng bộ tài khoản