Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt

Chia sẻ: An | Ngày: | 2 tài liệu

0
405
lượt xem
3
download
Xem 2 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt

Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt
Mô tả bộ sưu tập

Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh cùng tham khảo bộ sưu tập Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt. Bộ sưu tập này được chúng tôi sưu tầm và tổng hợp nhằm hỗ trợ tốt nhất cho việc dạy và học của quý thầy cô giáo và các em học sinh. Thư viện eLib rất hi vọng, bộ sưu tập này sẽ hữu ích đối với các thầy cô giáo và các em học sinh.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt

Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt
Tóm tắt nội dung

Chúng tôi xin giới thiệu phần trích dẫn nội dung trong bộ sưu tập Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt dưới đây:

 LÝ THƯỜNG KIỆT ( 1019 – 1105 )
“Ông là người giàu mưu lược, có biệt tài làm tướng súy, làm quan trải thờ ba đời vua, phá Tống, bình chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được vua sung ái, là người đứng đầu các bậc công hầu vậy”
1.Thân thế và sự nghiệp:
Lý Thường kiệt là một nhân vật lịch sử kiệt xuất của dân tộc Việt Nam hồi thế kỷ XI, ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ và bà Hàn Diệu Chi, người làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay là làng Cơ Xá, Gia Lâm Hà Nội).
Đúng như Phan Huy Chú nói, Lý Thường Kiệt là “ người đứng đầu các bậc công hầu” của triều Lý. Nhưng ông không phải là người họ Lý chính tông, vốn người họ Ngô, tên húy là Tuấn. Ngô Tuấn tự là Thường Kiệt, sau vì có công, được vua sung ái nên được ban quốc tính ( tức lấy họ của vua). Sau này, khi có danh vọng lớn trong triều, ông cùng gia đình dời nhà về phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long ( nay là Hà Nội). Vì vậy mà hậu thế chỉ biết đến tên gọi là Lý Thường Kiệt, ít ai biết đến ho và tên thật của ông.
Lý Thường Kiệt sinh năm Kỷ Mùi 1019, tức năm Thuận Thiên thứ 10, đời vua Lý Thái Tổ ( 1010 – 1028), sinh ra trong gia đình có truyền thống học hành và làm quan. Thủa nhỏ ông rất thông minh, chăm đọc sách binh thư, chăm luyện tập võ nghệ và ông có một người em trai là Thường Hiển. Năm ông 13 tuổi (1031) cha mất, năm 18 tuổi (1036) mẹ ông cũng qua đời. Ông được chồng của cô giúp đỡ nên quyết tâm học võ và học chữ để làm rạng danh cho đất nước và gia đình. Sử cũ chép rằng, lúc còn trẻ, ông là người có vẻ mặt ‘tươi đẹp lạ thường”, nên năm 23 tuổi được tuyển làm Hoàng Môn Chi Hậu ( tức là một hoạn quan nhỏ trong triều). Nhưng cũng từ đây, Lý Thường Kiệt bắt đầu một quá trình lâu dài và liên tục.
Lý Thường Kiệt làm quan trải thờ ba đời vua là Lý Thái Tông ( 1028 – 1054), Lý Th ái Tông ( 1054 – 1072) và Lý Nhân Tông ( 1072 – 1127). Từ một chức hoạn quan nhỏ Lý Thường Kiệt được thăng dần đến chức Phụ Quốc Thái Phó, Dao Thụ Chư Trấn Tiết Độ, Đồng Trung Thư Môn Hạ, Thượng Trụ Quốc, Hà Thái Úy, Tước Khai Quốc Công và được nhận làm Thiên Tử Nghĩa Đệ ( em kết nghĩa của Thiên Tử).
Sinh thời Lý Thường Kiệt có ba cống hiến lớn. Một là, không ngừng nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết vì nghĩa cả, không ngừng nêu cao phẩm giá trung quân ái quốc của các bậc đại thần khi vận nước lâm nguy cũng như non sông được thái bình. Hai là, góp phần đắc lực cùng vua và triều đình trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là góp phần củng cố sức mạnh của guồng máy nhà nước đương thời. Ba là, vạch kế hoạch chiến lược và trực chỉ huy những trận đánh lừng danh nhất của thế kỷ XI, đập tan hoàn toàn mưu đồ xâm lăng nguy hiểm và xảo quyệt của quân Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập của nước nhà. Trong thời gian khoảng hơn chục năm sau khi Lý Thánh Tông qua đời ( 1069 ), Lý Thường Kiệt thực sự là linh hồn của đất nước, là người chịu trách nhiệm lớn nhất trong sự nghiệp điều khiển vận mệnh quốc gia. Ở một chừng mực nào đó, cũng có thể nói rằng, Lý Thường Kiệt gần như vua của nước nhà trong giai đoạn khó khăn nhất của đất nước ở thế kỷ XI.
Về mặt văn hóa, Lý Thường Kiệt cũng đã có những đóng góp to lớn. Ông đã để lại cho đời một số áng văn thơ, trong đó nổi bật bài thơ tứ tuyệt không đề, được hậu thế chọn bốn câu thơ đầu làm đề để dễ truyền tụng, đó là bốn chữ Nam quốc sơn hà. Nam quốc sơn hà là một trong những áng thiên cổ hùng văn, có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước nhà, và bài hịch Phạt Tống lộ bố văn ( bài văn công bố đánh giặc Tống).

Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh xem đầy đủ tài liệu này trong bộ sưu tập Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt . Ngoài ra, quý thầy cô giáo và các em học sinh có thể tham khảo thêm nhiều tài liệu khác, hoặc đăng nhập để tải tài liệu về tham khảo.
Đồng bộ tài khoản