Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu

Chia sẻ: An | Ngày: | 4 tài liệu

0
727
lượt xem
12
download
Xem 4 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THPT để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu

Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu
Mô tả bộ sưu tập

Đến với bộ sưu tập Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu dưới đây sẽ giúp các em học sinh nắm được những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Xuân Diệu. Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo bộ sưu tập này. Thư viện eLib kính chúc quý thầy cô ngày càng giảng dạy hay, các em học sinh học tập tốt!

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu

Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo đoạn trích Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu được lấy từ bộ sưu tập cùng tên dưới đây:

Nhà thơ Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu), (sinh vào ngày 2 tháng 2 năm 1916) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam, xã Phước Hòa, Tuy Phước, Bình Định, Mất vào ngày 18 tháng 12, 1985 (69 tuổi) tại Hà Nội, cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp. Xuân Diệu lớn lên ở Quy Nhơn.

Ngoài công việc của ông là nhà thơ, ông còn là 1 nhà báo, nhà bình luận văn học với bút danh là Xuân Diệu, Trảo Nha, học vấn đạt tới trình độ Tú tài, Cử nhân luật, khoảng thời gian sáng tác của ông ở những năm từ 1936 - 1985, thể loại tiêu biểu là Trữ tình, Chủ đề về Thơ tình, tuổi trẻ. Trào lưu Phong trào Thơ mới, ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là thơ tình làm trong khoảng 1936 - 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống, ông là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Nhờ đó, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình". Ông từng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam (1942).

Sau khi theo đảng (1945), thơ ông chủ yếu ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sống bằng nghề viết văn, Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 và làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi chuyển về ở Hà Nội.thơ tình của ông không còn được biết đến nhiều như trước.là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940).
Trong tập Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa ghi lại câu nói nổi tiếng của Xuân Diệu: "Nhà văn tồn tại ở tác phẩm. Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết. Tác phẩm tiêu biểu của ông ở giai đoạn này: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), truyện ngắn Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945). Hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh. (Huy Cận, tháng 4 năm 2000)
Năm 1944, Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiền phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam. Từ đó, Xuân Diệu trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng, một "dòng thơ công dân". Bút pháp của ông chuyển biến phong phú về giọng vẻ: có giọng trầm hùng, tráng ca, có giọng chính luận, giọng thơ tự sự trữ tình.

Tiêu biểu là: Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982), Tuyển tập Xuân Diệu (1983).Là cây đại thụ của nền thi ca hiện đại Việt Nam, Xuân Diệu đã để lại khoảng 450 bài thơ (một số lớn nằm trong di cảo chưa công bố), một số truyện ngắn, và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức năm 1983.Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).Tên của ông được đặt cho một đường phố ở Hà Nội, và cũng được đặt cho một trường trung học phổ thông ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

Xuân Diệu đã lập gia đình riêng một lần với NSND Bạch Diệp nhưng hai người đã ly dị và họ không có con chung. Sau khi ly dị ông sống độc thân cho đến lúc mất vào năm 1985.Xuân Diệu là người cùng quê Hà Tĩnh với Huy Cận (làng Ân Phú, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh) nên khi gặp nhau, hai ông đã trở thành đôi bạn thân. Vợ của Huy Cận, bà Ngô Thị Xuân Như là em gái của Xuân Diệu. Có người cho rằng Xuân Diệu cùng với Huy Cận là hai nhà thơ đồng tính luyến ái[3]. Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với nhau nhiều năm. Những bài thơ "Tình trai", "Em đi" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy Cận được cho là viết về đề tài đó. Theo hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm điểm về việc này[4].Con nuôi của ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ - con trai nhà thơ Huy Cận, và cũng là cháu ruột của ông (cậu ruột). Cù Huy Hà Vũ đã bị bắt vào năm 2010, và bị kết án 7 năm tù giam, 3 năm quản chế vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Hãy tham khảo toàn bộ tài liệu Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu trong bộ sưu tập nhé!
Đồng bộ tài khoản