Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Chia sẻ: An | Ngày: | 3 tài liệu

0
143
lượt xem
1
download
Xem 3 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
Mô tả bộ sưu tập

Bộ sưu tập Giá trị lập luận trong bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh sẽ mang lại cho các em học sinh các kiến thức bổ ích, cho quý thầy cô giáo những tài liệu giảng dạy hay nhất. Các tài liệu trong bộ sưu tập sẽ cung cấp kiến thức giúp các em học sinh nắm được giá trị của những lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn trong chương trình.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh
Tóm tắt nội dung

Dưới đây là phần trích dẫn nội dung của tài liệu đầu tiên được trích trong bộ sưu tập Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh:

 

Giá trị lập luận trong bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

1. Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người đã viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng có những tác phẩm xuất sắc mẫu mực. Riêng ở thể loại văn chính luận Hồ Chí Minh đã chứng tỏ mình là một cây bút xuất sắc, mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” 1945. “Tuyên ngôn độc lập” là một bản tuyên bố lịch sử được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Đình vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bản “Tuyên ngôn độc lập” vừa tuyên bố nền độc lập của dân tộc vừa bác bỏ luận điểm xâm lược của kẻ thù. “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. Cái tạo nên giá trị nghệ thuật cao chính là ở bút pháp lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích trong sáng.
2.a. Hồ Chí Minh viết “Tuyên ngôn độc lập” là để tuyên bố nền độc lập của dân tộc trước quốc dân đồng bào và trước thế giới. Thế giới ở đây không phải chung chung mà trước hết là đế quốc Anh, Pháp, Mỹ. Vì sao vậy? Vì khi ta giành được độc lập thì phía Bắc quân Tàu Tưởng áp sát biên giới theo sự xíu giục của Mỹ, còn ở phía Nam quân Pháp núp sau lưng quân Anh tiến vào Đông Dương với chiêu bài đã có công “khai hóa” Đông Dương nên có quyền trở lại Việt Nam. Như vậy bản tuyên ngôn đồng thời phản ánh được hai mục đích là vừa tuyên bố độc lập và vừa bác bỏ luận điệu xâm lược của kẻ thù để ngăn chặn nguy cơ chiến tranh.
Để cho bản tuyên ngôn có tính pháp lí, tính thực tế, Hồ Chí Minh đã dẫn lời hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trên thế giới là “tuyên ngôn độc lập” 1776 của Mỹ và “tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” 1791 của Pháp. Cốt lõi của hai bản tuyên ngôn là “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” suy rộng ra “tất cả các dân tộc sinh ra trên thế giới đều bình đẳng” đó là quyền không ai có thể xâm phạm được. Đưa ra hai bản tuyên ngôn này, Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều mục đích cho bản tuyên ngôn. Trước hết là dùng làm cơ sở pháp lí và thực tế để khẳng định nền độc lập dân tộc là một tất yếu. Đồng thời kẻ thù của dân tộc ta tại thời điểm viết “Tuyên ngôn độc lập” là Pháp và Mỹ. Vậy việc đưa ra lời lẽ của tổ tiên người Mỹ, người Pháp để nhắn gửi đế quốc Mỹ và Pháp là dùng phép gậy ông đập lưng ông nếu họ thực hiện dã tâm xâm lược nước ta. Ngoài hai mục đích trên, việc đưa ra lời lẽ của hai bản tuyên ngôn tác giả nhằm đặt ba cuộc cách mạng ngang nhau, ba nền độc lập ngang nhau, ba bản tuyên ngôn ngang nhau, đó là một cách kín đáo Hồ Chí Minh thể hiện niềm tự hào dân tộc.
b. Kẻ thù nguy hiểm nhất của nước Việt Nam non trẻ lúc bấy giờ chính là Pháp. Để đẩy lùi nguy cơ chiến trang, tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, Hồ Chí Minh đã bác bỏ luận điệu xảo trá của Pháp. Nghệ thuật bác bỏ của Hồ Chí Minh vừa có lí lẽ đanh thép, vừa có dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích.
Trước hết Hồ Chí Minh lập luận bác bỏ luận điệu rằng Pháp có công khai hóa. Tuyên ngôn vạch rõ hành động của Pháp hơn tám mươi năm nay ở Việt Nam là “trái với nhân đạo và chính nghĩa”. Về chính trị Pháp chia Bắc, Trung, Nam để cai trị, dìm các cuộc khởi nghĩa trong biển máu, đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện. Về kinh tế, chúng bóc lột nhận dân ta đến tận xương tủy, gây ra nạn đói làm hai triệu đồng bào ta bị chết.
Tiếp theo Hồ Chí Minh bác bỏ luận điệu Pháp có công bảo hộ. Lập luận của bản tuyên ngôn đã chỉ rõ thực dân Pháp đến nước ta không hề có sự bảo hộ mà chúng không phải có công mà là có tội là “trong năm năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật”. Và cuối cùng Hồ Chí Minh bác bỏ luận điệu Pháp có quyền trở lại Đông Dương. Để bác bỏ luận điệu này Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc đia của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Sự thật là dân ta nói lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Những lí lẽ và dẫn chứng hùng hồn nói trên, Hồ Chí Minh đã bác bỏ một cách đanh thép về những luận điệu xảo trá của Pháp, để cho bọn Pháp nhận ra mà từ bỏ dã tâm xâm lược, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.
c. Để khẳng định quyền độc lập, nền độc lập, tư cách làm chủ đất nước, bản tuyên ngôn đã có những lập luận rất chặt chẽ, sắc bén.
Lập luận khẳng định đầu tiên của bản tuyên ngôn là khẳng định tính chất đê hèn tàn bạo của bọn Pháp “thẳng tay khủng bố Việt Minh, giết nốt tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”, trong khi đó nhân dân ta rất khoan hồng nhân đạo “giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật”. Dân tộc Việt Nam không chỉ có nhân đạo chính nghĩa mà đặc biệt đã có tinh thần anh dũng chiến đấu và đứng hẳn về phe đồng minh để chống phát xít thì tất nhiên “dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập”.
Lập luận khẳng định độc lập tự do còn được nhấn mạnh, tăng thêm trong lời kết luận của bản tuyên ngôn đó là “Việt Nam có quyền hưởng tự do và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập”.
Kết thúc bản tuyên ngôn là lập luận quyết tâm giữ độc lập tự do của dân tộc Việt Nam “toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
3. “Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác văn chính luận của Hồ Chí Minh nói riêng, của nền văn học Việt Nam nói chung. Thành công đặc biệt của tác phẩm văn chính luận “Tuyên ngôn độc lập” là nhà văn đã đưa ra được những lập luận rõ ràng chặt chẽ, những hệ thống lí lẽ đanh thép sắc sảo, những dẫn chứng hùng hồn không thể chối cãi được. Đằng sau nghệ thuật lập luận ấy là một trí tuệ sắc sảo, một tầm tư tưởng, tầm văn hóa cao rộng của nhà văn Hồ Chí Minh, của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh xem đầy đủ tài liệu hoặc xem thêm các tài liệu khác trong bộ sưu tập Giá trị lập luận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh. Ngoài ra, quý thầy cô giáo và các em học sinh cũng có thể tải về làm tư liệu tham khảo bằng cách đăng nhập vào Thư viện eLib.
Đồng bộ tài khoản