Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
72
lượt xem
0
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến

Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến
Mô tả bộ sưu tập

Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo bộ sưu tập Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến trên eLib.vn. Đây là bộ sưu tập tài liệu được chúng tôi chọn lọc và tổng hợp nhằm giúp quý thầy cô giáo và các em học sinh tiện theo dõi. Hi vọng rằng, bộ sưu tập này sẽ giúp ích cho quý thầy cô giáo và các em học sinh trong việc nâng cao hiệu quả dạy và học trong chương trình phổ thông.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến

Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến
Tóm tắt nội dung

Chúng tôi xin trích dẫn một phần tài liệu đầu tiên trong bộ sưu tập Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến dưới đây:

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà chính trị lỗi lạc , danh nhân văn hóa thế giới, đồng thời là nhà ngoại giao kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Để chỉ đạo hoạt động ngoại giao – một lĩnh vực hết sức gian khó do những đặc thù của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đề ra tư tưởng “ Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Nguyên tắc này không chỉ là bí quyết nhận thức , hành động hiệu quả của riêng Hồ Chí Minh mà còn trở thành cẩm nang trong nhận thức, hành động của cách mạng Việt Nam.
“ Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 5 – 1946 – thời điểm “Vận mệnh dân tộc ngàn cân treo sợi tóc” mà Người sang Pháp để cứu vãn nền hòa bình . Trước khi đi, người giao quyền chủ tịch nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng với lời dặn dò: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” (1) – lấy điều không đổi ứng phó với vạn điều thay đổi để thực hiện điều không đổi.
Theo nhà ngoại giao Vũ Dương Huân, “ Dĩ bất biến, ứng vạn biến” không có nguyên trong sách cổ mà được suy ra từ Ngô Khởi binh pháp, thiên thứ 5 về ứng biến (2). Bằng câu nói mang âm hưởng văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh thể hiện quan điểm phải kết hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ giữa Tính nguyên tắc, kiên định, vững chắc của mục tiêu chiến lượt với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lượt, giữa đường lối cách mạng và sách lượt cách mạng. Câu nói trên như một điển tích, điển cố giữa 2 người tri âm, tri kỷ trong một hoàn cảnh cụ thể đã vượt qua không gian và thời gian để trở thành nguyên tắc chỉ đạo tư tưởng, phương châm hành động và triết lý nhân sinh của dân tộc Việt Nam trên tinh thần Biện chứng.
“ Dĩ bất biến, ứng vạn biến” – tư tưởng, phương pháp và phong cách của Hồ Chí Minh.
Với Hồ Chí Minh, tư tưởng, phương pháp, phong cách thường chung đúc làm một nên “dĩ bất biến, ứng vạn biến là sự cô đúc tất cả tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh” (3). Để hiểu được sự sâu sắc của tư tưởng, sự linh hoạt của phương pháp cách mạng và sự thống nhất trong phong cách tư duy và hành động của Hồ Chí Minh, chúng ta phải xác định điều gì là bất biến, điều gì là vạn biến cũng như mối quan hệ giữa bất biến và vạn biến trong quan niệm của Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, điều bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ hoàn cảnh đau thương của một dân tộc bị mất nước và khát vọng giải phóng dân tộc của một con người yêu nước, điều bất biến đầu tiên trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập, tự do của dân tộc. Nếu như mỗi con người sinh ra đều có “quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” thì “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (4). Từ quyền con người, Hồ Chí Minh đã nâng thành quyền dân tộc và cuộc đấu tranh vì “những lẽ không phải ai có thể chối cãi được” ấy đã trở thành mục tiêu bất biến trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Từ năm 1930, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng – cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo mà tư tưởng cốt lõi là độc lập – tự do . Tháng 8 -1945, trong những điều kiện thuận lợi của lịch sử, Hồ Chí Minh đúc kết ý chí đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do của nhân dân ta bằng câu nói bất hủ: Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành được độc lập. Cách mạng Tháng Tám thành công, Người thay mặt chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng khẳng định trước thế giới: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập đó (5). Cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt Nam diễn ra cũng vì mục tiêu bất biến mà Người đã khái quát thành chân lý “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tuy nhiên, đối với Hồ Chí Minh độc lập dân tộc không phải là một khái niệm chung chung mà ngược lại, nó chứa đựng những nội hàm, tiêu chí cụ thể như độc lập dân tộc độc lập dân tộc phải gắn liền với Sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, với quyền dân tộc tự quyết, với sự ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân…Suy cho cùng, những tiêu chí đó chính là những khác vọng muôn đời của mọi dân tộc, mọi con người. Thấu hiểu khát vọng ấy, thực tiễn hóa những khác vọng ấy thành mục tiêu bất biến của cách mạng và của chính cuộc đời mình là điều chỉ có ở các vĩ nhân.

Quý thầy cô giáo và các em học sinh có thể tham khảo đầy đủ tài liệu này và xem thêm các tài liệu khác trong bộ sưu tập Giải thích câu Dĩ bất biến ứng vạn biến. Hoặc download về làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác dạy và học ngày càng hiệu quả.
Đồng bộ tài khoản