Giáo án GDCD 12 bài 10: Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại

Chia sẻ: Đỗ Thế Hoàng Phong | Ngày: | 3 giáo án

0
631
lượt xem
21
download
Xem 3 giáo án khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án Tiểu học để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Giáo án GDCD 12 bài 10: Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại

Mô tả BST Giáo án GDCD 12 bài 10

Chúng tôi hiểu được những gì các thầy cô giáo cần trước thềm năm học mới đó là một giáo án chi tiết, chính vì thế, chúng tôi đã tuyển chọn các bài soạn hay, sáng tạo nhằm giúp các thầy cô giáo có thêm tài liệu tham khảo cho việc soạn bài của mình. Chúng tôi trân trọng giới thiệu bộ Giáo án GDCD 12 Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại. Các kiến thức được trình bày khoa học sẽ giúp các em học sinh hiểu được vai trò của pháp luật đối với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân lọai. Nhận biết được thế nào là điều ước quốc tế, mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia. Hi vọng, với bộ Giáo án này, quý thầy cô sẽ có thêm tài liệu tham khảo chất lượng để xây dựng bài dạy thú vị giúp các em học sinh tiếp thu bài hiệu quả.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Giáo án GDCD 12 bài 10

GIÁO ÁN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12

BÀI 10: PHÁP LUẬT VỚI HÒA BÌNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TIẾN BỘ CỦA NHÂN LOẠI

 

I. Mục tiêu

1. Về kiến thức:

  • Hiểu được vai trò của pháp luật đối với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân lọai.
  • Nhận biết được thế nào là điều ước quốc tế, mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia.
  • Hiểu được sơ bộ về sự tham gia và thực hiện tích cực của Việt Nam vào các điều ước quốc tế về quyền con người, về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

2. Về kĩ năng:

  • Phân biệt được điều ước quốc tế với các văn bản pháp luật quốc gia.

3. Về thái độ:

  • Tôn trọng pháp luật của Nhà nước về quyền con người, về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

II. Nội dung bài học

1. Trọng tâm:

  • ­ Vai trò của pháp luật đối với hòa bình và sự phát triển, tiến bộ của nhân lọai
  • ­ Điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia
  • ­ Việt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người, về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

V. Tiến trình lên lớp

1. Ổn định tổ chức lớp :

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Giảng bài mới:

Phần làm việc của Thầy và Trò

Nội dung chính của bài học

 Tiết 1:

Đơn vị kiến thức 1:

Vai trò của pháp luật đối với hòa bình và sự phát triển, tiến bộ của nhân lọai

♦ Mức độ kiến thức:

HS  hiểu được: Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hoà bình cho thế giới, trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vì sự phát triển, tiến bộ của nhân loại.

♦ Cách thực hiện:

Đơn vị kiến thức này mang tính lý luận, GV chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình.

Đơn vị kiến thức 2:

Điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia

 Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

- Thế nào là điều ước quốc tế.

- Thực hiện điều ước quốc tế ở các quốc gia như thế nào?

a Cách thực hiện:

GV sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với đàm thoại

ï Khái niệm điều ước quốc tế

GV hỏi:

­ Điều ước quốc tế là gì?

­ Các em đã biết đến điều ước quốc tế nào (Ví dụ: hiệp định, công ước)?

HS có thể kể tên một số điều ước quốc tế, ví dụ: Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.

GV giảng:

Ngày nay, không một quốc gia nào đứng ngoài các quan hệ hợp tác quốc tế mà có thể phát triển được. Hơn bao giờ hết, các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau để cùng tồn tại và phát triển. Để hợp tác với nhau, các quốc gia phải cùng nhau đàm phán để đi đến thống nhất kí kết các văn bản pháp lí quốc tế, trong đó quy định mỗi nước có những quyền và nghĩa vụ gì và cách thức thực hiện hợp tác như thế nào. Văn bản pháp lí được kí kết giữa các quốc gia được gọi là điều ước quốc tế.

Vậy thế nào là điều ước quốc tế ?

Có thể định nghĩa một cách khái quát : Điều ước quốc tế là văn bản pháp luật quốc tế do các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế thoả thuận kí kết, nhằm điều chỉnh quan hệ giữa họ với nhau trong các lĩnh vực của quan hệ quốc tế.

Điều ước quốc tế là tên gọi chung, trong đó mỗi điều ước quốc tế lại có tên gọi riêng của mình. Thông thường, điều ước quốc tế có các tên gọi như : hiến chương, hiệp định, hiệp ước, công ước, nghị định thư.

Ví dụ:

+ Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN,...

+ Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kì ; Hiệp định Bảo hộ và khuyến khích đầu tư giữa Việt Nam với các nước ; Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ; Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam – Trung Quốc,...

+ Hiệp ước về Đông Nam á không có vũ khí hạt nhân ; Hiệp ước về biên giới đất liền giữa Việt Nam - Trung Hoa ; Hiệp ước ước hoạch định biên giới Việt Nam – Lào ;...

+ Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em ; Công ước về chống phân biệt đối xử với phụ nữ ; Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển ;...

+ Nghị định thư Ki-ô-tô về môi trường

♦ Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

GV nêu câu hỏi đàm thoại:

­ Giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia có mối liên quan với nhau như thế nào?

HS trao đổi, phát biểu.

GV giảng:

Điều ước quốc tế là một bộ phận quan trọng và chủ yếu của Luật Quốc tế (trong Luật Quốc tế, ngoài điều ước quốc tế còn có tập quán quốc tế). Sau khi được ký kết, điều ước quốc tế bắt đầu có hiệu lực trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên. Các quốc gia thành viên phải cùng nhau nghiêm chỉnh thực hiện các quy định trong các điều khoản của từng điều ước quốc tế. Thực hiện điều ước quốc tế là nghĩa vụ của tất cả các quốc gia thành viên của mỗi điều ước quốc tế. Nếu quốc gia thành viên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định của điều ước quốc tế thì bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế.

Sau khi điều ước quốc tế có hiệu lực, nó cần phải được thực hiện ở các quốc gia thành viên. Thông thường, điều ước quốc tế không có hiệu lực trực tiếp ở các nước thành viên mà phải được chuyển hoá vào hệ thống pháp luật quốc gia thông qua các cách thức khác nhau mà mỗi quốc gia tự xác định. Thực tiễn thực hiện pháp luật quốc tế cho thấy, các quốc gia thường chuyển hoá bằng cách : Rà soát toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia mà nội dung có liên quan đến điều ước quốc tế mà mình ký kết. Sau đó có thể ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới hoàn toàn hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để nội dung của nó phù hợp với các quy định của điều ước quốc tế. Cụ thể là, nếu thấy thiếu văn bản trong pháp luật quốc gia thì ban hành văn bản mới hoàn toàn ; nếu thấy văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề nào đó đã có nội dung liên quan đến điều ước quốc tế, nhưng nội dung một số quy định đã lỗi thời, không còn phù hợp thì Nhà nước phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Ví dụ : Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật, như : Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Thương mại, Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Quốc tịch, Luật Biên giới quốc gia,... Các luật này được ban hành đã cụ thể hoá các quy định của điều ước quốc tế về quyền con người, về hoà bình, hữu nghị và về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Qua các luật này, có thể thấy Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế được xác định trong các điều ước quốc tế đa phương và song phương.

Như vậy, việc thực hiện điều ước quốc tế thường được tiến hành ở các quóc gia thành viên theo các cách khác nhau, miễn sao cho điều ước quốc tế được thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ và thống nhất.

Tiết 2:

Đơn vị kiến thức 3:

Việt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người, về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

a Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

- Một số điều ước quốc tế quan trọng về các lĩnh vực này mà Việt nam đã kí kết, tham gia.

- Tại sao Việt Namđã tích cực tham gia các điều ước quốc tế này?

a Cách thực hiện:

GV sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với đàm thoại và trực quan sơ đồ (Sơ đồ “Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết, tham gia”)

GV giảng:

ïViệt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người :

GV nêu câu hỏi đàm thoại :

­ Em hiểu thế nào là quyền con người?

HS trao đổi, phát biểu.

GV giảng:

Quyền con người là khái niệm chính trị – pháp lý quan trọng trong Luật Quốc tế cũng như Luật Quốc gia. Vấn đề quyền con người luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng và tiến bộ nhân loại. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tuỳ theo các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau mà vấn đề quyền con người được lý giải và thực hiện theo các cách khác nhau.

Khái niệm quyền con người chỉ được chính thức đề cập tới từ cuối thế kỷ XVIII, trong giai đoạn đầu của thời kỳ tư bản chủ nghĩa, được coi kết quả của các cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, là giá trị nhân văn cao quý của loài người. Các văn bản pháp lý quốc gia đầu tiên nhắc đến quyền con người là : Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, Luật về quyền công dân của Anh. Công xã Pari năm 1817 và đặc biệt là Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 đã đề cập ván đề quyền con người một cách toàn diện và triệt để.

 Vậy thế nào là quyền con người ? Có thể định nghĩa một cách khái quát nhất về quyền con người như sau : Quyền con người là quyền cơ bản của mỗi cá nhân đương nhiên có được ngay từ khi mới sinh ra cho đến  trọn đời mình mà mỗi nhà nước đều có trách nhiệm ghi nhận và bảo đảm. Đó là các quyền cơ bản đối với con người, như : quyền được sống, quyền tự do cơ bản, quyền bình đẳng, quyền lao động, quyền có cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Trong lĩnh vực quyền con người, các quốc gia hợp tác với nhau hoặc với các tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ và phát triển các quyền con người nói chung và quyền con người của công dân mình trong các mối quan hệ với các quốc gia khác ở phạm vi song phương, đa phương và trong phạm vi toàn cầu.

GV nêu câu hỏi đàm thoại :

­ Em biết những điều ước quốc tế nào về quyền con người mà Việt nam đã  tham gia kí kết?

HS trao đổi, trả lời.

GV giảng giải kết hợp trực quan sơ đồ.

GV giảng:

Cho đến nay, cộng đồng quốc tế đẫ ký kết 24 điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó phải kể đến :

- Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 ;

- Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 ;

- Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá ;

- Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989.

ï Pháp luật Việt Nam về quyền con người:

Điều 50 Hiến pháp năm 1992 khẳng định : “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Quyền con người được ghi nhận trong văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước, khẳng định quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Nhà nước Việt Nam luôn vì con người, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho con người. Pháp luật Việt Nam về quyền con người thông qua Hiến pháp 1992 và các luật đã ghi nhận và tạo ra các bảo đảm thực tế cho các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của con người được thực hiện phù hợp với những đổi thay của tình hình kinh tế – xã hội của đất nước. Gắn liền với tiến trình đổi mới các lĩnh vực của đời sống đất nước, các quyền con người ngày càng được bảo đảm, trong đó có quyền tự do kinh doanh của công dân, quyền có việc làm, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do cư trú, tự do đi lại,... Đặc biệt trong pháp luật Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em luôn được quan tâm và có vị trí xứng đáng.

Nội dung quyền con người trong pháp luật Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như : Bộ luật Dân sự năm 2005 ; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 ; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ; Luật Giáo dục năm 2005 ; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ; Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002 và 2006) ;...

ïViệt Nam với các điều ước quốc tế về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia

GV nêu câu hỏi đàm thoại:

­ Em biết những điều ước quốc tế nào về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia mà

Việt nam đã  tham gia kí kết?

HS trao đổi, phát biểu.

GV giảng kết hợp cho HS trực quan sơ đồ:

Có nhiều điều ước quốc tế về hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia. Trong phạm vi bài, chúng ta chỉ tìm hiểu về các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với các nước láng giềng.

Với các nước láng giềng, một đường biên giới quan trọng mang theo cả dấu ấn của lịch sử và thời đại, đó là đường biên giới Việt Nam – Trung Hoa. Có thể nói, đây là đường biên giới hình thành lâu đời nhất ở nước ta. Đường biên giới này được bắt đầu hình thành từ hai Công ước hoạch định biên giới Pháp – Thanh năm 1887 và 1895.

Sau nhiêu năm đàm phán, ngày 30 tháng 12 năm 1999, Hiệp ước về biên giới đất liền Việt Nam – Trung Hoa đã được ký chính thức tại Hà Nội và ngày 7-7-2000 hai bên đã trao đổi thư phê chuẩn Hiệp ước. Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam – Trung Hoa đã đánh dấu mốc son trong quan hệ Việt Trun gtrước thềm thiên niên kỷ mới và là 1 trong 10 sự kiện tiêu biểu nhất của Việt Nam trong năm 1999.

Ngoài biên giới Việt – Trung, các đường biên giới Việt – Lào, Việt Nam – Campuchia cũng đã được ký kết và cắm mốc, tạo thành những đường biên giới hoà bình, hữu nghị giữa Việt Nam và các nước láng giềng.

ïViệt Nam với các điều ước quốc tế về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

GV nêu câu hỏi đàm thoại :

­ Em hiểu gì về Hiệp định CEPT?

­ Tại sao Việt Nam lại tham gia kí kết Hiệp định CEPT?

HS trao đổi, phát biểu.

GV giảng kết hợp cho HS trực quan sơ đồ:

Bước đi quan trọng của Viẹt Nam trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực là tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (viết tắt là AFTA), ký kết Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (viết tắt là CEPT).

Theo Hiệp định CEPT, ASEAN sẽ thực hiện khu vực mậu dịch tự do (AFTA) trong vòng 15 năm (01/01/1993 – 01/01/2008), theo đó tất cả các nước thành viên ASEAN đều phải lập chương trình cắt giảm thuế quan xuống còn 0-5% đối với hàng chế tạo, hàng nông sản đã qua chế biến theo các danh mục và lịch trình sau :

- Danh mục bắt buộc giảm thuế quan, bao gồm :

+ Danh mục giảm thuế nhanh (dầu, thực vật, xi-măng, dược phẩm, phân bón hoá học, hàng nhựa, sản phẩm cao su tự nhiên, đồ da, đồ mỹ nghệ vàng bạc, đá quý, điện cực bằng đồng, hàng điện tử, gỗ, đồ song mây), trong đó :

• Đối với những mặt hàng có thuế suất hiện tại trên 20% thì phải giảm thuế suất xuống 0-5% vào năm 2003.

• Đối với những mặt hàng có thuế suất hiện tại dưới 20% thì phải giảm thuế suất xuống 0-5% vào năm 2000.

+ Danh mục giảm thuế thông thường :

• Đối với những mặt hàng có thuế suất dưới 20% thì phải giảm thuế súât xuống 0-5% vào năm 2003.

• Đối với những mặt hàng có thuế suất trên 20% thì phải giảm thuế suất xuống 20% vào năm 1998 và xuống 0-5% vào năm 2003.

Ngoài ra, còn có các danh mục : danh mục loại trừ vĩnh viễn (khong cắt giảm thuế quan) vàdanh mục loại trừ tạm thời (tạm thời không thuộc diện phải cắt giảm).

Việt Nam tham gia AFTA, thực hiện CEPT từ ngày 01-01-1996, chậm hơn 3 năm so với 6 nước thành viên khác của ASEAN (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand, Singapore) nên Việt Nam được thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT cho mỗi danh mục mặt hàng. Việt Nam đã thực hiện nghiêm chỉnh lộ trình cam kết cắt giảm thuế quan. Cụ thể là : Từ 01-01-2003, Việt Nam cắt giảm thuế quan từ 30 – 60% xuống dưới 20% cho 775 mặt hàng (chiếm 94% tổng số mặt hàng trong Danh mục biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam trong chương trình CEPT).

GV nêu câu hỏi đàm thoại tiếp:

­ Em hiểu gì về tổ chức WTO?

­ Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới lớn nhất hành tinh này, Việt Nam sẽ có được những cơ hội nào ?

HS trao đổi, phát biểu.

GV giảng:

Biểu hiện nổi bật nhất về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là việc nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ ngày 7-11-2006, sau 11 năm đàm phán gay go, quyết liệt, song phương với 28 nước thành viên WTO và vòng đàm phán đa phương Urugoay. Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra trang sử mới của nước ta trong tiến trình nhập vào nền kinh tế thế giới.

Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới lớn nhất hành tinh này, Việt Nam sẽ có được những cơ hội nào ?

+ Việt Nam được hưởng ưu đãi theo chế độ tối huệ quốc một cách vô điều kiện mà các nước thành viên dành cho nhau, theo đó hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang các nước thành viên WTP chỉ chịu mức thuế suất rất thấp. Điều này sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam có thêm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

+ Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có cơ hội tham gia một “luật chơi” chung toàn cầu, không bị phân biệt đối xử trong thương mại và tăng khả năng thâm nhập vào thị trường của các nước thành viên, được giải quyết tranh chấp theo pháp luật thương mại quốc tế.

GV nêu câu hỏi đàm thoại:

­ Tại sao Việt Nam tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người; về hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia; về hợp tác khu vực và quốc tế?

Cả lớp trao đổi, đàm thoại.

GV giải thích:

+ Vì Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến con người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân.

+ Vì nhân  dân Việt Nam luôn yêu chuộng hoà bình, luôn muốn sống trong bầu không khí hoà bình, hữu nghị và hợp tác, muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới.

+ Vì hợp tác, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang là xu thế chung trong thời đại ngày nay.Có hội nhập, chúng ta mới có thể tranh thủ phát huy những khả năng về vốn, khoa học, kĩ thuật, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đồng thời đón nhận những thành tựu mà loài người đã đạt được, tạo điều kiện cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước.

 

1. Vai trò của pháp luật đối với hòa bình và sự phát triển, tiến bộ của nhân lọai

­ Pháp luật là phương tiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia.

­ Pháp luật là cơ sở để các nước xây dựng và phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộc.

­ Pháp luật là cơ sở để thực hiện hợp tác kinh tế ­ Thương mại giữa các nước.

­ Pháp luật là cơ sở để bảo vệ quyền con người trên tòan thế giới.

 

 

2. Điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia

 

 

 

 

 

 

 

a) Khái niệm điều ước quốc tế

   Điều ước quốc tế là văn bản pháp luật quốc tế do các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế thỏa thuận kí kết, nhằm điều chỉnh quan hệ giữa họ với nhau trong các lĩnh vực của quan hệ quốc tế.

   Điều ước quốc tế là tên gọi chung, trong đó từng điều ước quốc tế có thể có những tên gọi khác nhau như: hiến chương, hiệp ước, hiệp định, công ước, nghị định thư, v.v…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

    Điều ước quốc tế là một bộ phận của pháp luật quốc tế. Các quốc gia thực hiện điều ước quốc tế bằng cách:

­ Ban hành văn bản pháp luật mới để cụ thể hóa nội dung của điều ước quốc tế hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành cho phù hợp với nội dung của điều ước quốc tế liên quan.

­ Tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước liên quan để thực hiện các văn bản pháp luật trên, tức là để điều ước quốc tế được thực hiện ở quốc gia mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. Việt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người, về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a) Việt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người

   Quyền con người là quyền cơ bản của mỗi cá nhân đương nhiên có được ngay từ khi mới sinh ra cho đến trọn đời mình mà mỗi nhà nước đều phải ghi nhận và bảo đảm. Đó là các quyền cơ bản đối với con người, như: quyền được sống, quyền tự do cơ bản, quyền bình đẳng, quyền lao động, quyền có cuộc sống ấm no và hạnh phúc, v.v…

   Ngoài Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Nhà nước ta đã kí kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế quan trọng khác về quyền con người như: Công ước năm 1996 về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội; Công ước năm 1965 về lọai trừ các hình thức phân biệt chủng tộc;…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Việt Nam với các điều ước quốc tế về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia

   Trong quan hệ với các nước láng giềng, Việt Nam đặc biệt quan tâm củng cố, duy trì và phát triển quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia.

   Với Trung Quốc, Việt Nam đã kí kết Hiệp ước biên giới trên bộ ngày 30 – 12 – 1999, Hiệp định phân định vịnh Bắc bộHiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc bộ ngày 25 – 12 – 2000. Nước ta cũng đã kí các hiệp ước hoặc hiệp định về biên giới trên bộ và trên biển với Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan.

 

 

c) Việt Nam với các điều ước quốc tế về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

♦  Ở phạm vi khu vực

   Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực của nước ta được bắt đầu kể từ khi trở thành thành viên của ASEAN.

    Thực hiện Hiệp định CEPT là thực hiện hội nhập về thương mại trong Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (có tên gọi tắt là AFTA). Hội nhập về thương mại là một bước đi quan trọng đầu tiên để hàng hóa được giao lưu tự do, thông thương giữa các nước ASEAN.

    Năm 1998 nước ta trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Tham gia vào APEC, Việt Nam đã kí kết một số hiệp định và thỏa thuận về tự do hóa thương mại và đầu tư với các nước thành viên APEC.

♦ Ở phạm vi tòan thế giới

    Đến năm 2008, nước ta đã có quan hệ thương mại với hơn 160 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngòai phạm vi ASEAN, khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam còn tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), kí kết nhiều hiệp định về hợp tác kinh tế và thương mại với các nước trong Liên minh châu Âu (EU).

     Gia nhập WTO (Tổ chức thương mại thế giới), nước ta tham gia hàng lọat điều ước quốc tế về hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế .

---xem online hoặc tải về máy---

 Trên đây chỉ là một phần trong toàn bộ giáo án Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại. Để xem đầy đủ nội dung giáo án quý thầy cô và các em học sinh vui lòng truy cập elib.vn để tải về máy hoặc xem online. 

Ngoài giáo án trên, quý thầy cô và các em học sinh có thể tham khảo thêm bài giảng này tại đây: 

Đồng bộ tài khoản