Giáo án GDCD 12 bài 2: Thực hiện pháp luật

Chia sẻ: Lày Chỉ Sìn | Ngày: | 3 giáo án

0
3.309
lượt xem
53
download
Xem 3 giáo án khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án Tiểu học để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Giáo án GDCD 12 bài 2: Thực hiện pháp luật

Mô tả BST Giáo án GDCD 12 bài 2

Những bộ Giáo án GDCD 12 Thực hiện pháp luật được biên soạn một cách rõ ràng và chi tiết bởi nhiều giáo viên khác nhau sẽ là những tài liệu hữu ích cho các giáo viên tham khảo. Đến với bộ sưu tập này, giáo viên giúp học sinh nắm được kiến thức của bài khái niệm thực hiện pháp luật, các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật. Hiểu được thế nào là vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí cũng như các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. Hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho quý thầy cô.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Giáo án GDCD 12 bài 2

GIÁO ÁN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12

BÀI 2: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

 

I. Mục tiêu 

1. Về kiến thức:

  • Nêu được khái niệm thực hiện pháp luật , các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật
  • Hiểu được thế nào là vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí ; các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí.

2. Về kĩ năng:

  • Biết cách thực hiện pháp luật phù hợp với lứa tuổi.

3. Về thái độ:

  • Có thái độ tôn trọng pháp luật ,
  • Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làm trái quy định pháp luật .

II. Nội dung bài

1. Trọng tâm:

  • Thực hiện pháp luật:
    • Khái niệm thực hiện pháp luật.
    • Các giai đoạn, các hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật tiến hành để đưa pháp luật vào đời sống.
  • Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí:
    • Các dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật; khái niệm vi phạm pháp luật.
    • Khái niệm trách nhiệm pháp lí.
    • Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí tương ứng.

III. Phương pháp

  • Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…

IV. Phương tiện dạy học

  • Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to.
  • Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu.

V. Tiến trình lên lớp

1. Ổn định tổ chức lớp:

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Giảng bài mới:

Phần làm việc của Thầy và Trò

Nội dung chính của bài học

Tiết 1:

Đơn vị kiến thức 1:

Khái niệm , các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật

a Mức độ kiến thức:

HS nêu được các nội dung cơ bản:

- Khái niệm thực hiện pháp luật.

- Thực hiện pháp luật là quá trình thường xuyên trong cuộc sống của các cá nhân, tổ chức, cơ quan, bao gồm 4 hình thức cụ thể: sử dụng pháp luật, thi hành pháp luật, tuân thủ pháp luật, áp dụng pháp luật.

- Hai giai đoạn của quá trình thực hiện pháp luật.

a Cách thực hiện:

* Khái niệm thực hiện pháp luật

GV yêu cầu HS đọc 2 tình huống ở đoạn Cùng quan sát trong SGK, sau đó hướng dẫn HS khai thác vấn đề bằng cách đưa ra các câu hỏi sau:

­ Trong tình huống 1: Chi tiết nào trong tình huống thể hiện hành động thực hiện Luật Giao thông đường bộ một cáh có ý thức (tự giác), có mục đích? Sự tự giác đã đem lại tác dụng như thế nào?

­ Trong tình huống 2: Để xử lí 3 thanh niên vi phạm, cảnh sát giao thông đã làm gì? (áp dụng pháp luật: xử phạt hành chính)

  Mục đích của việc xử phạt đó là gì? (Răn đe hành vi vi phạm pháp luật và giáo dục hành vi thực hiện đúng pháp luật cho 3 thanh niên).

Từ những câu trả lời của HS, GV tổng kết và đi đến khái niệm trong SGK.

GV giảng mở rộng:

Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vậy, Thế nào là hành vi hợp pháp ?

Hành vi hợp pháp là hành vi không trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật mà phù hợp với các quy định của pháp luật, có lợi cho Nhà nước, xã hội và công dân :

-Làm những việc mà pháp luật cho phép làm.

-Làm những việc mà pháp luật quy định phải làm.

-Không làm những việc mà pháp luật cấm.

Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, có rất nhiều loại quy phạm pháp luật khác nhau, với những cách thực thực hiện khác nhau. Có thể đó là cách xử sự chủ động (hành động) : Làm những việc mà pháp luật quy định được làm hoặc nghĩa vụ phải làm ; có thể đó là cách xử sự thụ động (không hành động) : Kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm.

* Các hình thức thực hiện pháp luật.

GV kẻ bảng: Các hình thức thực hiện pháp luật. Chia lớp thành 4 nhóm, đánh số thứ tự và phân công nhiệm vụ từng nhóm tương ứng với thứ tự các hình thức thực hiện pháp luật trong SGK . Yêu cầu mỗi nhóm trong thời gian thảo luận 3 phút phải nêu ra nội dung và ví dụ minh hoạ cho hình thức thực hiện mà mình được giao. Sau đó, lần lượt các nhóm lên điền vào bảng do GV kẻ sẵn.

GV kẻ sẵn một bảng tổng hợp ở nhà để củng cố cho HS hiểu 4 hình thức thực hiện pháp luật.

Các ví dụ minh hoạ:

+ Sử dụng pháp luật

Ví dụ : Công dân A gửi đơn khiếu nại Giám đốc Công ty khi bị kỷ luật cảnh cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Trong trường hợp này, công dân A đã sử dụng quyền khiếu nại của mình theo quy định của pháp luật, tức là công dân A sử dụng pháp luật.

Đặc điểm của hình thức sử dụng pháp luật : Chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình mà không bị ép buộc phải thực hiện.

+ Thi hành pháp luật  (xử sự tích cực)

Ví dụ : Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thu gom và xử lý chất thải theo tiêu chuẩn môi trường. Đây là việc làm của cơ sở sản xuất, kinh doanh chủ động thực hiện công việc mà mình phải làm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Thông qua việc làm này, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường.

+ Tuân thủ pháp luật (xử sự thụ động)

Ví dụ : Không tự tiện chặt cây phá rừng ; không săn bắt động vật quý hiếm ; không khai thác, đánh bắt cá ở sông, ở biển bằng phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt (ví dụ : mìn, chất nổ,...).

+ Áp dụng pháp luật

   Thứ nhất, cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền ban hành các quyết định cụ thể.

Ví dụ : Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định về điều chuyển cán bộ từ Sở Giáo dục và Đào tạo sang Sở Văn hoá - Thông tin. Trong trường hợp này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đã áp dụng pháp luật về cán bộ, công chức.

  Thứ hai, cơ quan nhà nước ra quyết định xử lý người vi phạm pháp luật hoặc giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức.

Ví dụ : Toà án ra quyết định tuyên phạt cải tạo không giam giữ và yêu cầu bồi thường thiệt hại người đốt rừng, phá rừng trái phép ; Cảnh sát giao thông xử phạt người không đội mũ bảo hiểm là 100.000 đồng.

Để khắc sâu kiến thức, phát triển tư duy HS, GV yêu cầu các em phân tích điểm giống nhau và khác nhau giữa 4 hình thức thực hiện pháp luật.

GV lưu ý:

+ Giống nhau: Đều là những hoạt động có mục đích nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của người thực hiện.

+ Khác nhau: Trong hình thức sử dụng pháp luật thì chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị ép buộc phải thực hiện.

Ví dụ: Luật giao thông đường bộ quy định, công dân từ 18 tuổi trở lên có quyền điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên. Khi ấy, những người đạt độ tuổi này có thể đi xe gắn máy và có thể đi xe đạp (không bắt buộc phải đi xe gắn máy).

Yêu cầu quan trọng của phần này là HS phải thấy rõ được rằng pháp luật có được thực hiện hay không, pháp luật có đi vào cuộc sống hay không trước tiên và chủ yếu là do mỗi cá nhân, tổ chức có chủ động, tự giác thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật hay không.

Tiết 2:

 * Các giai đoạn thực hiện pháp luật.

GV đặt câu hỏi:

­ Theo em, quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng xuất hiện khi nào?

HS trả lời.

GV nhận xét, kết luận: Quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng chỉ xuất hiện  sau khi quan hệ hôn nhân được xác lập. Khi ấy, xuất hiện quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng (giai đoạn 1 của quá trình thực hiện pháp luật)

GV hỏi tiếp:

­ Vợ, chồng thực hiện quyền và nghĩa của mình như thế nào?

HS trao đổi, trả lời.

GV nhận xét, kết luận: Sau khi quan hệ hôn nhân được xác lập, vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình (giai đoạn 2 của quá trình thực hiện pháp luật) theo quy định tại chương III – Quan hệ giữa vợ và chồng của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

GV lưu ý:

 Hai giai đoạn của quá trình thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: giai đoạn 1 là tiền đề của giai đoạn 2, giai đoạn 2 là hệ quả phát sinh tất yếu từ giai đoạn 1. Quá trình thực hiện pháp luật bắt buộc phải trải qua hai giai đoạn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp còn xuất hiện giai đoạn 3 - giai đoạn không bắt buộc. Nó chỉ xuất hiện khi cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ can thiệp bằng cách ra quyết định buộc chủ thể vi phạm phải thực hiện đúng pháp luật.

Đơn vị kiến thức 2:

Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí.

a Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

- Các dấu hiệu cơ bản để nhận biết một hành vi vi phạm pháp luật.

- Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí tương ứng.

a Cách thực hiện:

* Vi phạm pháp luật.

GV sử dụng ví dụ trong SGK và yêu cầu HS chỉ ra biểu hiện cụ thể của từng dấu hiệu của hành vi vi phạm trong ví dụ đó.

GV giảng:

Các dấu hiệu vi phạm pháp luật:

°Thứ nhất: Là hành vi trái pháp luật.

+ Hành động cụ thể: Bạn A chưa đến tuổi được phép tự điều khiển xe mô tô mà đã lái xe đi trên đường và hai bố con bạn A đều đi xe ngược chiều quy định; Cơ sở sản xuất, kinh doanh thải chất thải chưa được xử lý  đạt tiêu chuẩn môi trường vào đất, nguồn nước ; nhập cảnh, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch;…

+ Không hành động: Người kinh doanh không nộp thuế cho Nhà nước (trái với pháp luật về thuế); Người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật không giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ;...

°Thứ hai: Do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.

GV có thể yêu cầu HS giải thích rõ: Thế nào là năng lực trách nhiệm pháp lí? Những người nào đủ và không đủ năng lực trách nhiệm pháp lí ?

GV giảng:

Năng lực trách nhiệm pháp lý : Khả năng của người đã đạt độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có thể nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, tự quyết định cách xử sự  cho đúng pháp luật và chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của mình.

Năng lực trách nhiệm pháp lý của con người phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ - tâm lý (có bị bệnh về tâm lý làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức về hành vi của mình hay không). Có những hành vi mặc dù là trái pháp luật nhưng do một người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thực hiện thì không bị coi là vi phạm pháp luật, vì những hành vi này do người không có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện. Hành vi trái pháp luật của trẻ em chưa đến độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật thì không bị coi là vi phạm pháp luật, vì trẻ em còn ít tuổi có thể nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, nhưng chưa có khả năng nhận thức được hậu quả của hành vi trái pháp luật của mình gây ra.

Ví dụ : Theo quy định của pháp luật thì trẻ em dưới 14 tuổi là người không có năng lực trách nhiệm pháp lý nên dù có thực hiện hành vi trái pháp luật thì cũng không bị coi là vi phạm pháp luật. Vì thế, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định không xử phạt vi phạm hành chính người dưới 14 tuổi.

 

°Thứ ba: Người vi phạm pháp luật phải có lỗi.

GV nêu câu hỏi: Theo em, bố con bạn A có biết đi xe vào đường ngược chiều là vi phạm pháp luật không? Hành động của bố con bạn A có thể dẫn đến hậu quả như thế nào? Hành động đó cố ý hay vô ý?

GV giảng;

Một người bình thường, khoẻ mạnh về mặt tâm lý, có lý chí và tự do ý chí, hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình hành vi xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng và cần phải thấy trước hậu quả hành vi của mình. Nếu coi thường lợi ích xã hội và lợi ích của cá nhân khác, có thể nhận thấy được hậu quả thiệt hại cho xã hội hoặc cho người khác do hành vi của mình gây ra nhưng lại mong muốn, hoặc để mặc, hoặc do sơ xuất để nó xảy ra thì đó là hành vi có lỗi.

Trong khoa học pháp lý, lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý phản ánh trạng thái tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và đối với hậu quả của hành vi đó.

Lỗi được thể hiện dưới hai hình thức : lỗi cố ý và lỗi vô ý.

+ Lỗi cố ý

   Lỗi cố ý trực tiếp : Chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội và cho người khác do hành vi của mình gây ra, nhưng vẫn mong muốn điều đó xảy ra.

Ví dụ : Hành vi đánh người gây thương tích.

   Lỗi cố ý gián tiếp : Chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội và cho người khác do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc cho nó xảy ra.

Ví dụ : Không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng.

+ Lỗi vô ý

   Lỗi vô ý do quá tự tin : Chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã hội và cho người khác do hành vi của mình gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không xảy ra.

Ví dụ : Phanh xe (thắng) không an toàn ; bán thực phẩm bị quá hạn sử dụng làm nhiều người bị ngộ độc.

   Lỗi vô ý do cẩu thả : Chủ thể vi phạm do khinh suất, cẩu thả mà không nhận thấy trước hậu quả của thiệt hại cho xã hội và cho người khác do mình gây ra, mặc dù có thể nhận thấy và cần phải nhận thấy trước.

Ví dụ : Hút thuốc lá làm cháy rừng ; tạt ngang xe máy làm ngã người khác

Như vậy, những hành vi trái pháp luật mang tính khách quan, không có lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó (chủ thể không cố ý và cũng không vô ý thực hiện hành vi đó) không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật.

GV rút ra khái niệm vi phạm pháp luật.

Để khắc sâu kiến thức cho HS, GV hỏi:

­ Nguyên nhân nào dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật?

GV giảng:

Trong 2 nguyên nhân khách quan (thiếu pháp luật, pháp luật không còn phù hợp với thực tế, điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn) và chủ quan (coi thưòng pháp luật, cố ý vi phạm vì mục đích cá nhân, không hiểu biết pháp luật) thì nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân chính, nguyên nhân phổ biến dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, ý thức con người là yếu tố quan trong nhất, quyết định việc tuân thủ pháp luật hay vi phạm pháp luật của cá nhân, tổ chức.

GV động viên, khuyến khích HS nâng cao hiểu biết về pháp luật.

* Trách nhiệm pháp lí

Để dẫn dắt HS hiểu khái niệm và ý nghĩa của trách nhiệm pháp lí, GV lần lượt hỏi:

­ Các vi phạm pháp luật gây hậu quả gì, cho ai?

­ Cần phải làm gì để khắc phục hậu quả đó và phòng ngừa các vi phạm tương tự?

Khi phân tích về lí thuyết, GV sử dụng các ví dụ trong SGK, Bài đọc thêm Vết trượt từ chiếc mũ hoặc cùng HS nêu vài vụ án đã xét xử.

GV giảng:

Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ “Trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa.

            Theo nghĩa thứ nhất, trách nhiệm có nghĩa là chức trách, công việc được giao, là nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho các chủ thể pháp luật. Ví dụ : Khoản 2 Điều 61 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định : “Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên thượng nguồn dòng sông có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên hạ nguồn dòng sông trong việc điều tra phát hiện, xác định nguồn gây ô nhiễm nước sông và áp dụng các biện pháp xử lý”.

Theo nghĩa thứ hai, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ mà các chủ thể phải gánh chịu hậu quả bất lợi khi không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình mà pháp luật quy định. Đây là sự phản ứng của Nhà nước đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội.

Trách nhiệm pháp lý trong bài học được hiểu theo nghĩa thứ hai.

Tiết 3:

* Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí:

GV yêu cầu HS trình bày 4 loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí tương ứng.

GV giảng:

+ Vi phạm hình sự :

Vi phạm hình sự (tội phạm) là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ ; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, nền quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội ; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức ; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân và xâm phạm những lĩnh vực khác của Nhà nước và xã hội.

Ví dụ : Người tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm hình sự, bị coi là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội vì nó góp phần làm băng hoại sức khoẻ con người, ảnh hưởng đến lao động sản xuất, học tập và công tác của công dân, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

Chủ thể vi phạm hình sự chỉ có thể là những cá nhân.

=> Trách nhiệm hình sự

Là loại trách nhiệm pháp lý với các chế tài nghiêm khắc nhất do Toà án áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội (vi phạm hình sự). Trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng đối với các tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Ví dụ : Khoản 1 Điều 197 về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định : “Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Trong ví dụ trên, người tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là người vi phạm pháp luật hình sự, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 197 Bộ luật Hình sự. Trách nhiệm hình sự chỉ có thể do Toà án áp dụng, không một cơ quan, tổ chức nào khác có quyền áp dụng.

+ Vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức, cơ quan thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

Ví dụ : đi xe mô tô, xe gắn máy vào đường ngược chiều hoặc vào đường cấm ; cửa hàng dịch vụ Internet mở cửa cho sử dụng dịch vụ sau 11 giờ đêm, quá giờ quy định ; người kinh doanh lấn chiếm vỉa hè ; gây rối trạt tự công cộng nhưng chưa gây hậu quả xấu.

Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

=> Trách nhiệm hành chính

Là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính. Chế tài trách nhiệm hành chính thường là phạt tiền, phạt cảnh cáo, khôi phục lại tình trạng ban đầu, thu giữ tang vật, phương tiện dược sử dụng để vi phạm,...

Ví dụ, Điều 19 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định : “Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải đình chỉ ngay các hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh và phải thực hiện các biện pháp để khắc phục ; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện thực hiện thì bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu mọi chi phí cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế”.

+ Vi phạm dân sự

Vi phạm dân sự là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân (bao gồm quan hệ nhân thân phi tài sản và quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản). Vi phạm này thường thể hiện ở việc chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các hợp đồng dân sự.

Ví dụ : Người thuê cửa hàng đã tự ý sửa chữa cửa hàng không đúng với thoả thuận trong hợp đồng ; người thuê xe ô tô không trả cho chủ xe đúng thời hạn thoả thuân hoặc làm hư hỏng xe.

Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

=> Trách nhiệm dân sự

Là loại trách nhiệm pháp lý do Toà án áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm dân sự. Chế tài trách nhiệm dân sự chủ yếu là bồi thường thiệt hại hoặc thực hiện các nghĩa vụ dân sự mà các bên đã thoả thuận. Bên có nghĩa vụ mà thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chủ yếu bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và đôi khi còn có trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tỏn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Ví dụ : Bên B nhận gia công cho bên A một số sản phẩm là quần áo. Khi nhận hàng, bên A kiểm tra thấy hàng gia công không bảo đảm chất lượng như thoả thuận đã ghi trong hợp đồng, bên A có quyền yêu cầu bên B sửa chữa nhưng bên B không thể sửa chữa trong thời hạn đã thoả thuận. Khi đó, bên A có quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bên B bồi thường thiệt hại. Nêu bên B không bồi thường thì bên A có quyền khởi kiện tại Toà án. Trong trường hợp này, quyết định của Toà án là có giá trị bắt bụoc đối với bên B, nghĩa là bên B phải chịu trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại.

+ Vi phạm kỷ luật

Vi phạm kỷ luật là hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quy tắc kỷ luật lao động trong các cơ quan, trường học, doanh nghiệp, các quy định đối với các bộ, công chức nhà nước. Các quy định của pháp luật bị vi phạm là các quy định thuộc Luật Lao động và Luật Hành chính.

Ví dụ : Người lao động tự ý bỏ việc nhiều ngày mà không có lý do chính đáng ; cán bộ, công chức thường xuyên đi làm muộn.

=> Trách nhiệm kỷ luật

Là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng cơ quan, giám đóc doanh nghiệp,... áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên thuộc quyền quản lý của mình khi họ vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chế độ công vụ nhà nước

 Chế độ trách nhiệm kỷ luật thường là : khiển trách, cảnh cáo, điều chuyển công tác khác, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc (sa thải) hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.

Ví dụ : Theo Điều 85 Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2006), hình thức xử lý kỷ luật sa thải được áp dụng trong trường hợp : Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, tiết lộ bí mật công nghệ, kinh doanh hoặc có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp ; Người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong một năm mà không có lý do chính đáng.

GV kết luận: Trong 4 loại trên thì vi phạm hình sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất và trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất mà Nhà nước buộc người vi phạm phải gánh chịu.

1. Khái niệm , các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a) Khái niệm thực hiện pháp luật
  
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Các hình thức thực hiện pháp luật
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

­ Sử dụng pháp luật : Các cá nhân, tổ chức sử dụng đúng đắn các quyền của mình , làm những gì mà pháp luật cho phép làm.
 

 

 

 

 

 

 

 

­ Thi hành pháp luật : Các cá nhân , tổ chức thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm.
 

 

 

 

 

 

 

­ Tuân thủ pháp luật : Các cá nhân , tổ chức kiềm chế để không làm những điều mà pháp luật cấm.

 

­ Áp dụng pháp luật : Các cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thực hiện các quyền , nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

c) Các giai đoạn thực hiện pháp luật
­
Giai đoạn 1 : Giữa các cá nhân, tổ chức hình thành một quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh (gọi là quan hệ pháp luật).

­ Giai đoạn 2 : Cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ pháp luật thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
 

 

 

 

 

 

 

a) Vi phạm pháp luật
­ 
Thứ nhất, là hành vi trái pháp luật
 + Hành vi đó có thể là hành động – làm những việc không được làm theo quy định của pháp luật hoặc không hành động – không làm những việc phải làm theo quy định của pháp luật .
+ Hành vi đó xâm phạm, gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.

­ Thứ hai, do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện.

   Năng lực trách nhiệm pháp lí được hiểu là khả năng của người đã đạt một độ tuổi nhất định theo quy định pháp luật, có thể nhận thức,  điều khiển  và chịu trách nhiệm về việc thực hiện hành vi  của mình.
­ Thứ ba, người vi phạm pháp luật phải có lỗi.
Lỗi thể hiện thái độ của người biết hành vi của mình là sai, trái pháp luật , có thể gây hậu quả không tốt nhưng vẫn cố ý làm hoặc vô tình để mặc cho sự việc xảy ra.

=>  Kết luận:

    Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật , có lỗi do người có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Trách nhiệm pháp lí
­
Trách nhiệm pháp lí là nghĩa vụ của các chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế do Nhà nước áp dụng.

­ Trách nhiệm pháp lí được áp dụng nhằm :

+ Buộc cá chủ thể vi phạm pháp luật chấm dứt hành vi trái pháp luật .

+ Giáo dục, răn đe những người khác để họ tránh, hoặc kiếm chế những việc làm trái pháp luật .
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

c) Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí:

­ Vi phạm hình sự là những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự.

   Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự , phải chấp hành hình phạt theo quy định của Tòa án. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Người từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm .

­ Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước .

  Người vi phạm phải chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật . Người từ 14 đến 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý ; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra.

­ Vi phạm dân sự là hành vi vi phạm pháp luật , xâm phạm tới các quan hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng…) và quan hệ nhân thân (liên quan đến các quyền nhân thân, không thể chuyển giao cho người khác, ví dụ : quyền đối với họ, tên, quyền được khai sinh, bí mật đời tư, quyền xác định lại giới tính…)
Người có hành vi vi phạm dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự. Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật (ví dụ : bố mẹ đối với con) đồng ý, có các quyền , nghĩa vụ , trách nhiệm dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập và thực hiện.

­ Vi phạm kỉ luật là vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ lao động, công vụ nhà nước … do pháp luật lao động, pháp luật hành chính bảo vệ.

   Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỉ luật phải chịu trách nhiệm kỉ luật với các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyển công tác khác,  buộc thôi việc…

 

Trên đây là một phần nội dung được trích dẫn từ giáo án Thực hiện pháp luật, để xem hết nội dung của tất cả các giáo án còn lại, mời quý thầy cô đăng nhập vào trang thư viện elib và download tài liệu về máy.

Bên cạnh đó, quý thầy cô có thể xem thêm bài giảng để tiện cho việc giảng dạy:

Và xem giáo án bài tiếp theo:

Bài tập bài 2 Giáo dục công dân 12:

Đồng bộ tài khoản