Giáo án GDCD 12 bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống

Chia sẻ: Nguyễn Thị Ngọc Bích | Ngày: | 3 giáo án

0
4.443
lượt xem
104
download
Xem 3 giáo án khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án Tiểu học để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Giáo án GDCD 12 bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống

Mô tả BST Giáo án GDCD 12 bài 4

Thư viện eLib trân trọng gửi tới các thầy cô giáo bộ Giáo án GDCD 12 bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống .Giáo án được trình bày rõ ràng, dễ hiểu sẽ giúp các em học sinh nắm được khái niệm, nội dung quyền bình đẳng của công dân trong các lĩnh vực: hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh.Nêu được trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, trong lao động, trong kinh doanh .Bộ sưu tập này được chúng tôi tuyển chọn kỹ càng từ các giáo án của giáo viên đang tham gia giảng dạy bộ môn này trong cả nước.Với cách trình bày logic, chúng tôi hi vọng giáo án này sẽ giúp ích cho việc soạn giảng của các thầy cô giáo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Giáo án GDCD 12 bài 4

GIÁO ÁN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12

BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG

 

I. Mục tiêu

1. Về kiến thức:

  • Nêu được khái niệm, nội dung quyền bình đẳng của công dân trong các lĩnh vực: hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh.
  • Nêu được trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, trong lao động, trong kinh doanh.

2. Về kĩ năng:

  • Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền bình đẳng của công dân trong các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh.

3. Về thái độ:

  • Có ý thức tôn trọng các quyền bình đẳng của công dân trong hôn nhân và gia đình, trong lao động, trong kinh doanh.

II. Nội dung bài

1. Trọng tâm:

  • Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình.
  • Bình đẳng trong lao động.
  • Bình đẳng trong kinh doanh.

2. Một số kiến thức cần lưu ý:

  • Hôn nhân là sự liên kết đặt biệt giữa một nam và một nữ trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, được Nhà nước thừa nhận nhằm chung sống lâu dài và xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc.
  • Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn.
  • Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật.

III. Phương pháp

  • Thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…

IV. Phương tiện dạy.

  • Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to.
  • Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu.

V. Tiến trình lên lớp

1. Ổn định tổ chức lớp :

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Giảng bài mới:

Phần làm việc của Thầy và Trò

Nội dung chính của bài học

 Tiết 1:

Đơn vị kiến thức 1:

Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình

a Mức độ kiến thức:

HS hiểu:

- Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình là gì?

- Một trong những nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta là: bình đẳng giữa vợ và chồng, bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình.

- Bình đẳng trong hôn nhân được thể hiện trong quan hệ giữa vợ và chồng: vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

- Quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình được pháp luật quy định và được Nhà nước đảm bảo thực hiện.

a Cách thực hiện:

* Thế nào là bình đẳng trong hôn nhân và gia đình?

GV giải thích cho HS thấy được hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn. Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, thực hiện các chức năng sinh con, nuôi dạy con và tổ chức đời sống vật chất, tinh thần của gia đình.

GV giúp HS hiểu khái quát sự bình đẳng trong hôn nhân và gia đình:

Trong hôn nhân và gia đình có các mối quan hệ chủ yếu như:  quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha, mẹ và các con, quan hệ  giữa các anh, chị, em, và quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình.

Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình được hiểu là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong các mối quan hệ đó, ở phạm vi gia đình trên nguyên tắc công bằng, dân chủ, tôn trọng lẫn nhau và không phân biệt đối xử.

* Nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình.

ï Bình đẳng giữa vợ và chồng

GV đặt vấn đề:

Điều 63 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình”. Trong gia đình “vợ chồng bình đẳng” (Điều 64 Hiến pháp 1992).

Bình đẳng giữa vợ và chồng được hiểu là bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong gia đình. Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình : “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. 

Điều này được thể hiện trong quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.

GV hỏi:

­ Thế nào là quanhệ nhân thân giữa vợ và chồng?

­ Thế nào là quan hệ tài sản giữa vợ và chồng?

HS trả lời.

GV nhận xét, chốt ý:

+ Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền và nghĩa vụ mang yếu tố tình cảm gắn liền với bản thân vợ, chồng, không thể chuyển giao cho người khác được, như vợ , chồng có nghĩa vụ chung thuỷ, yêu thương, quý trọng nhau, bình đẳng về nghĩa vụ nuôi dạy con, có quyền lựa chọn nghề nghiệp chính đáng, nơi cư trú, tín ngưỡng, tôn giáo,…

+ Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng bao gồm: quyền sở hữu tài sản chung (chiếm hữu,sử dụng, định đoạt), có quyền có tài sản riêng (có trước khi kết hôn hoặc được thừa kế riêng, được tặng, cho riêng), quyền thừa kế, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng,..

GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:

GV chia nhóm và giao câu hỏi:

­ Tình trạng bạo lực trong gia đình mà nạn nhân thường là phụ nữ và trẻ em là vấn đề đang được quan tâm ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo em, đây có phải là biểu hiện của bất bình đẳng không?

­ Một người chồng do quan niệm vợ mình không đi làm, chỉ ở nhà làm công việc nội trợ, không thể quyết định được việc lớn, nên khi bán xe ô tô (tài sản chung của vợ chồng đang sử dụng vào việc kinh doanh của gia đình) đã không bàn bạc với vợ. Người vợ phản đối, không đồng ý bán. Theo em, người vợ có quyền đó không? Vì sao?

Đại diện các nhóm trình bày.

GV nhận xét, giảng giải:

+ Bạo lực trong gia đình là biểu hiện tư tưởng đặc quyền của nam giới. Người chồng, người cha tự cho mình có quyền đối xử tàn bạo, bất công với vợ, con, làm cho họ phải chiu những những tổn thương nặng nề về thân thể, bị khủng bố về tinh thần, lo sợ, hoang mang.

Bạo lực trong trong gia đình thể hiện cách ứng xử không bình đẳng, thiếu dân chủ khiến phụ nữ và trẻ em phải chịu thiệt thòi. Đó là hành vi vi phạm các quy định của  Luật Hôn nhân và Gia đình và Luật Bình đẳng giới . Do đó, bạo lực trong gia đình cần phải bị lên án và xử lí thật nghiêm khắc.

+ Người vợ có quyền phản đối, không đồng ý bán xe ô tô bởi đó là tài sản chung của vợ và chồng đang sử dụng vào việc kinh doanh của gia đình. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, việc mua, bán liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình phải được bàn bạc, thoả thuận của cả vợ và chồng.

GV kết luận: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

ï Bình đẳng giữa các thành viên của gia đình

GV giảng:

Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình: quan hệ giữa cha, mẹ và con; giữa ông, bà và cháu; giữa anh, chị, em với nhau được thực hiện trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau công bằng, dân chủ, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình.

Hiện nay, do thực hiện kế hoạch hoá gia đình, quy mô gia đình từ 1 đến 2 con tạo điều kiện cho cha mẹ quan tâm đến con cái. Tuy nhiên, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ, lợi ích giữa các thành viên trong gia đình (giữa vợ, chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu) là một vấn đề lớn. Có gia đình do hoàn cảnh khó khăn đã lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên hoặc xúi duc, ép buộc con con làm điều trái đạo đức, trái pháp luật. Vì vậy, chỉ có trên cơ sở tình thương và ý thức trách nhiệm của mọi người, với sự thông cảm lẫn nhau, có cách ứng xử dân chủ và công bằng mới giải quyết tốt những vấn đề va vấp, nảy sinh không thể tránh khỏi trong cuộc sống thường ngày. Ở đây, những người chủ gia đình, chồng và vợ, cha và mẹ có vai trò quyết định trong việc củng cố, xây dựng sự đoàn kết của gia đình.

GV yêu cầu HS giải quyết tình huống:

­ Trong thực tế, em đã nghe kể hoặc thấy trường hợp nào cha mẹ ngược đãi hoặc xúi giục, ép buộc con làm việc trái đạo đức, trái pháp luật chưa? Nếu rơi vào hoàn cảnh đó, theo em phải làm gì?

HS trao đổi tìm hướng giải quyết vấn đề.

GV giảng:

Trong thực tế đã có những trường hợp cha mẹ ngược đãi hoặc xúi giục, ép buộc con làm việc trái đạo đức, trái pháp luật. Nếu rơi vào hoàn cảnh đó, cần tới sự giúp đỡ của những người thân trong gia đình như ông, bà, cô, chú; của thầy, cô, bạn bè; của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể;…

GV kết luận: Các thành viên trong gia đình có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau và có nghĩa vụ quan tâm, chăm lo đời sống chung của gia đình.

* Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình

GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm.

Câu hỏi thảo luận:

­ Chế độ phong kiến trước đây công nhận chế độ đa thê: “Nam thì năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”.

Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đình chỉ cho phép và bảo vệ chế độ một vợ một chồng, nhưng tư tưởng “đa thê” có còn ảnh hưởng tới nam giới không? Biểu hiện ra sao? Theo quy định của pháp luật thì người vi phạm bị xử lí như thế nào?

HS thảo luận nhóm và cử đại diện trình bày.

GV giảng:

Thực tế, nước ta hiện nay còn ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, vẫn còn hiện tượng nam giới vi phạm pháp luật, lấy hai, ba vợ nhưng không đăng kí kết hôn. Vì vậy, để các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình được thực hiện, Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng

Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các thành viên của gia đình; vận động xoá bỏ phong tục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình; phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc văn hoá  của dân tộc, đồng thời xử lí nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình.

GV kết luận: Nhà nước bảo đảm cho quyền và lợi ích  hợp pháp của các thành viên trong gia đình được thực hiện. Cùng với Nhà nước, các thành viên cần tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình để xây dựng gia đình hoà thuận, ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.

Tiết 2:

Đơn vị kiến thức 2:

Bình đẳng trong lao động

a Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

- Thế nào là bình đẳng trong lao động?

- Công dân được thực hiện quyền lao động một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử; người lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao được ưu đãi.

- Sự cần thiết của giao kết hợp đồng lao động và nguyên tắc trong giao kết hợp đồng lao động là một trong những yếu tố quan trọng để công dân thực hiện quyền bình đẳng trong lao động.

- Lao động nữ được quan tâm để có điều kiện thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động. Nhà nước có chính sách và biện pháp để bảo đảm cho phụ nữ bình đẳng với nam giới trong lao động.

- Nhà nước có chính sách và các biện pháp để bảo đảm cho công dân bình đẳng trong lao động.

a Cách thực hiện:

* Thế nào là bình đẳng trong lao động?

GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi:

­ Vai trò của lao động đối với con người và xã hội?

­ Bình đẳng trong lao động là gì?

­ Ý nghĩa của việc pháp luật nước ta thừa nhận sự bình đẳng của công dân trong lao động.

GV giảng:

Điều 55 Hiến pháp 1992 khẳng định : “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân”. Để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về lao động, về sử dụng và quản lý lao động, Nhà nước ban hành Bộ luật lao động trong đó quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động. Nguyên tắc cơ bản của pháp  luật lao động gồm:

Người lao động được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và noi làm việc.

Tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng lao động

Công bằng, không phân biệt đối xử vì lý do giới tính,dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội.

Bảo vệ phụ nữ và người chưa thành niên trong lao động.

Trả công theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.

Bảo đảm quyền nghỉ ngơi và hưởng bảo hiểm xã hội

Thương lượng, hoà giải các tranh chấp lao động.

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật lao động xác định rõ quyền bình đẳng trong lao động của công dân, được thể hiện trên các phương diện:

Bình đẳng giữa các công dân trong việc thực hiện quyền lao động;

Bình đẳng người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ lao động;

Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ trong từng cơ quan, doanh nghiệp và trong phạm vi cả nước.

* Nội dung cơ bản của bình đẳng trong lao động

ï Công dân bình đẳng trong thực hiện quyền lao động.

GV cho HS trao đổi trả lời câu hỏi:

­ Hiện nay, một số doanh nghiệp ngại nhận lao động nữ vào làm việc, vì vậy, cơ hội tìm việc làm của lao động nữ khó khăn hơn lao động nam. Em có suy nghĩ gì trước hiện tượng trên?

GV hỏi tiếp:

­ Nếu là chủ doanh nghiệp, em có yêu cầu gì khi tuyển dụng lao động? Vì sao?

HS trả lời.

GV giảng:

Việc làm là vấn đề mấu chốt đầu tiên để người lao động thực hiện quyền lao động của mình. Pháp luật quy định mọi công dân đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm phù hợp với khả năng của mình, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tôn giáo…, đó là cơ sở để công dân bình đẳng trong thực hiện quyền lao động.

Tuy công dân thực hiện quyền lao động trên cơ sở bình đẳng, nhưng để có việc làm, công dân, dù nam hay nữ cần có ý thức trong việc học nghề và nâng cao trình độ chuyên môn, bởi người sử dụng lao động rất quan tâm đến năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc nên rất cần người lao động có tay nghề giỏi, trình độ chuyên môn kĩ thuật cao.

Những ưu đãi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao không bị coi là phân biệt đối xử trong sử dụng lao động.

ï Công dân bình đẳng trong giao kết hợp đồng lao động

GV minh hoạ một trường hợp cụ thể về giao kết hợp đồng lao động cho HS hiểu:

Chị X. đến công ti  may kí hợp đồng lao động với giám đốc công ti. Qua trao đổi từng điều khoản, hai bên đã thoả thuận kí hợp đồng dài hạn (việc kí hợp đồng được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không bên nào ép buộc bên nào). Các nội dung thoả thuận như sau:

+ Công việc chị X. phải làm là thiết kế các mẫu quần áo.

+ Thời gian làm việc: Mỗi ngày 8 giờ, mỗi tuần 40 giờ.

+ Thời gian nghỉ ngơi: Được nghỉ các thời gian trong ngày ngoài giờ làm việc theo hợp đồng; đươc nghỉ lễ, nghỉ tết, nghỉ ốm…theo quy định của pháp luật.

+ Tiền lương được trả mỗi tháng 1.500.000 đồng tiền Việt Nam trên cơ sở chấp hành tốt kỉ luật lao động theo quy định.

+ Địa điểm làm việc…

+ Thời gian hợp đồng…

+ Điều kiện an toàn, vệ sinh lao động…

+ Bảo hiểm xã hội: chị X. trích mỗi tháng 5% tồng thu nhập hàng tháng để đóng…

Qua ví dụ minh hoạ trên, GV đặt câu hỏi:

­ Hợp đồng lao động là gì?

­ Tại sao người lao động và người sử dụng lao động phải kí kết hợp đồng lao động?

GV cho học sinh thảo luận và cử đại diện phát biểu.

GV kết luận:

Khi giao kết hợp đồng lao động đã thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa người lao động với tổ chức hoặc cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động. Nội dung hợp đồng lao động là cơ sở pháp lí để  pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên, đặc biệt là đối với người lao động.

Hiểu biết về hợp đồng lao động, nắm vững nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động là điều kiện để công dân bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bản thân khi tham gia vào quá trình lao động. Đồng thời tham gia đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong lao động đã và đang diễn ra ở một số doanh nghiệp.

ï Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ

GV phân tích cho HS hiểu:

Quyền lao động của công dân được thực hiện trên cơ sở không phân biệt giới tính. Nhưng với lao động nữ, do một số đặc điểm về cơ thể, sinh lí và chức năng làm mẹ nên pháp luật có quy định cụ thể, có chính sách để lao động nữ có điều kiện thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động. Tuy nhiên, phụ nữ cần phải nâng cao trình độ về mọi mặt để khẳng định được vị trí của mình trong xã hội.

GV yêu cầu HS nêu một số tấm gương tiêu biểu của nữ trong lao động đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.

* Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong lao động.

GV giúp HS nêu và phân tích một số quy định của pháp luật để đảm bảo cho công dân bình đẳng trong lao động.

GV kết luận:

Pháp luật về lao động ở nước ta hiện nay không chấp nhận sự bất bình đẳng trong lao động. Nhiệm vụ của HS hiện nay là học tập để nâng cao trình độ văn hoá, có ý thức phấn đấu để trở thành người lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo trong lao động dù ở bất kì cương vị nào. Có như vậy mới đáp ứng được đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Tiết 3:

Đơn vị kiến thức 3:

Bình đẳng trong kinh doanh

a Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

- Thế nào là bình đẳng trong kinh doanh?

- Nước ta hiện nay phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng XHCN, do đó, các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự do, bình đẳng, cùng có lợi và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật.

- Công dân  có quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp với điều kiện, khả năng của mình. Khi tham gia kinh doanh ở bất cứ loại hình doanh nghiệp nào, công dân được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, được pháp luật bảo vệ quyền,  lợi ích hợp pháp.

- Nhà nước quy định và bảo vệ quyền bình đẳng của mọi công dân, của mọi thành phần kinh tế trong kinh doanh. Tuy nhiên, sự nỗ lực của các doanh nghiệp để nâng cao sức cạnh tranh cũng rất quan trọng.

a Cách thực hiện:

* Thế nào là bình đẳng trong kinh doanh?

GV giúp HS nhớ lại những kiến thức đã học ở lớp 11 về nền kinh tế thị trường, về các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, GV phân tích cho HS thấy trong nền kinh tế thị trường, các hình thức tổ chức kinh doanh tồn tại, đa dạng, phong phú., tham gia tích cực vào cạnh tranh. Để bảo vệ lợi ích của các chủ thể kinh doanh, pháp luật ghi nhận sự bình đẳng của các chủ thể (các nhân, tổ chức) trong kinh doanh.

GV hỏi:

 ­ Nhà nước ta thừa nhận doanh nghiệp nhà nước  giữ vai trò chủ đạo, tồn tại và phát triển ở những ngành, những lĩnh vực then chốt, quan trọng của ngành kinh tế có vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh không?

HS trả lời.

GV giảng:

Nhà nước ta thừa nhận doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tồn tại và phát triển ở những ngành,những lãnh vực then chốt , quan trọng của nền kinh tế quốc dân không vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh vì:

Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN có  sự điều tiết của nhà nước, các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển, các doanh nghiệp đều bình đẳng với nhau trong hoạt động kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật . Sự bình đẳng trước pháp luật của các thành phần kinh tế không có nghĩa là chúng có vị trí như nhau trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, phạm vi và lĩnh vực hoạt động của kinh tế quốc doanh sẽ thu hẹp lại nhưng nó vẫn giữ vai trò chủ đạo bởi nó tồn tại và phát triển ở những ngành ,những lĩnh vực then chốt, quan trọng của nền kinh tế. Nhà nước phải có những doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực quan trọng để đủ sức thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, can thiệp vào thị trường, khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước còn phải duy trì và phát triển ở những ngành,những lĩnh vực kinh doanh mang lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận để đảm bảo nhu cầu chung của nền kinh tế, ảm bảo lợi ích công cộng. Nhà nước còn phải đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư. Như vậy, doanh nghiệp nhà nước không chỉ được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh (thực hiện các mục tiêu xã hội) mà còn được thành lập để thực hiện hoạt động công ích (thực hiện các mục tiêu xã hội) đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nước ta. Do đó, doanh nghiệp  nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng không vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh. Tuy nhiên, pháp luật của nhà nước ngày càng có những quy định giảm dần sự cách biệt giữa doanh nghiệp nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác.

GV kết luận:

Hiện nay, nước ta đang xây dựng và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết cả Nhà nước, các thành phần kinh đều được khuyến khích phát triển, các doanh nghiệp đều bình đẳng với nhau trong hoạt động kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật.

* Nội dung cơ bản của bình đẳng trong kinh doanh

GV phân tích:

Ở nội dung thứ nhất, quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh của công dân trên cơ sở tuỳ theo “sở thích và khả năng”, “có đủ điều kiện”. Điều đó có nghĩa là không phải bất kì ai cũng có thể tham gia vào quá trình kinh doanh. Chỉ những cá nhân và tổ chức có đủ điều kiện về tài sản, về chuyên môn, về tinh thần mới có thể được Nhà nước cho phép hoạt động kinh doanh. Bốn nội dung còn lại đã thể hiện: công dân, dù kinh doanh ở loại hình doanh nghiệp nào, đều bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ.

GV hỏi:

­ Bình đẳng về quyền thể hiện ởnhững điểm nào?

­ Bình đẳng về nghĩa vụ thể hiện ở những điểm nào?

HS trả lời.

GV nhận xét, kết luận:

Công dân tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp để tổ chức kinh doanh. Dù lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào đều có các quyền sau: tự chủ đăng kí kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.; bình đẳng trong lựa chọn loại hình tổ chức kinh doanh; bình đẳng về nghĩa vụ trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh.

* Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong kinh doanh

GV sử dụng phương pháp đàm thoại.

Các câu hỏi được GV lần lượt đặt ra:

­ Hiện nay, nước ta có những loại hình doanh nghiệp nào? Hãy kể tên những doanh nghiệp thuộc các loại hình mà em biết.

­ Vì sao Nhà nước lại thừa nhận sự tồn tại lâu dài và sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta?

­ Vì sao Nhà bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp của mọi loại hình doanh nghiệp?

GV kết luận:

Quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh cần phải được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm thị trường, phát triển thương hiệu…để nâng cao sức cạnh tranh của mình.

 

 

1. Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình

a) Thế nào là bình đẳng trong hôn nhân và gia đình

   Bình đẳng trong hôn nhân và gia đình được hiểu là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng và giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở nguyên tắc dân chủ, công bằng, tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt đối xử trong các mối quan hệ ở phạm vi gia đình và xã hội.

b) Nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình

ï Bình đẳng giữa vợ và chồng

 ­ Trong quan hệ thân nhân: Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc lựa chọn nơi cư trú; tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; ….

­  Trong quan hệ tài sản: Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, thể hiện ở các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình đẳng giữa cha mẹ và con

  ­ Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con; cùng nhau thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con,…

 ­ Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con (kể cả con nuôi); không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

 ­ Con có bổn phận yêu quý, kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Con không được có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.

ïBình đẳng giữa ông bà và cháu

   Ông bà có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho các cháu; cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà.

ï Bình đẳng giữa anh, chị, em

    Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

c) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình

­ Nhà nước có chính sách, biện pháp tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và gia đình thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân và gia đình,..

­ Nhà nước xử lí kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Bình đẳng trong lao động

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a) Thế nào là bình đẳng trong lao động?

   Bình đẳng trong lao động được hiểu là bình đẳng giữa mọi công dân trong thực hiện quyền lao động thông qua việc tìm việc làm, bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động thông qua hợp đồng lao động, bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ trong từng cơ quan, doanh nghiệp và trong phạm vi cả nước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Nội dung cơ bản của bình đẳng trong lao động

ï Công dân bình đẳng trong thực hiện quyền lao động

 ­ Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp phù hợp với khả năng của mình, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, nguồn gốc gia đình, thành phần kinh tế.

  ­ Người lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao được Nhà nước và người sử dụng lao động ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tài năng, làm lợi cho doanh nghiệp và cho đất nước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ï Công dân bình đẳng trong giao kết hợp đồng lao động

   Việc giao kết hợp đồng lao động phải tuân theo nguyên tắc: tự do, tự nguyện, bình đẳng; không trái pháp luật và thoả ước lao động tập thể; giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ï Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ

    Lao động nam và lao động nữ được bình đẳng về quyền trong lao động, đó là: bình đẳng về cơ hội tiếp cận việc làm; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng; được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác.

   Tuy nhiên, lao động nữ được quan tâm đến đặc điểm về cơ thể, sinh lí và chức năng làm mẹ trong lao động để có điều kiện thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động.

 

 

c) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân trong lao động

­ Mở rộng dạy nghề, đào tạo lại, hướng dẫn kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp.

­ Khuyến khích việc quản lí lao động theo nguyên tắc dân chủ, công bằng trong doanh nghiệp.

­ Khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với người lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao.

­ Có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số.

­ Ban hành các quy định để bảo đảm cho phụ nữ bình đẳng với nam giới trong lao động: có quy định ưu đãi, xét giảm thuế đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ; mở nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ.

3. Bình đẳng trong kinh doanh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a) Thế nào là bình đẳng trong kinh doanh?

   Bình đẳng trong kinh doanh có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, từ việc lựa chọn ngành, nghề, địa điểm kinh doanh, lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh, đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh đều bình đẳng theo quy định của pháp luật

b) Nội dung quyền bình đẳng trong kinh doanh

­ Mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh.

­ Mọi doanh nghiệp đều có quyền tự chủ đăng kí kinh doanh trong nghề mà pháp luật không cấm.

­ Mọi loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều được bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

­ Mọi doanh nghiệp đều bình đẳng về quyền chủ động mở rộng quy mô và ngành, nghề kinh doanh; chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và kí kết hợp đồng; tự do liên doanh với các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; tự chủ kinh doanh để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.

­ Mọi doanh nghiệp đều bình đẳng về nghĩa vụ, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong doanh nghiệp; tuân thủ pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi trường, cảnh quan, di tích lịch sử.

 

 

 

 

 

c) Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền bình đẳng trong kinh doanh:

­ Nhà nước thừa nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của cá loại hình doanh nghiệp ở nước ta.

­ Nhà nước quy định địa vị pháp lí của các loại hình doanh nghiệp, quy định quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.

­ Nhà nước khẳng định bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp của mọi loại hình doanh nghiệp.

­ Nhà nước quy định nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lí doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

 

Trên đây là một phần nội dung của giáo án bài Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống để xem hết nội dung của giáo án và các giáo án còn lại trong BST, quý thầy cô vui lòng đăng nhập và download về máy.

Ngoài ra, để tiện trong việc giảng dạy quý thầy cô có thể xem thêm bài giảng:

Và xem thêm giáo án bài tiếp theo:

Bài tập bài 4 Giáo dục công dân 12:

Đồng bộ tài khoản