Giáo án GDCD 12 bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản

Chia sẻ: Đỗ Thế Hoàng Phong | Ngày: | 3 giáo án

0
8.210
lượt xem
87
download
Xem 3 giáo án khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án Tiểu học để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Giáo án GDCD 12 bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản

Mô tả BST Giáo án GDCD 12 bài 6

Để giúp các thầy cô giáo có thêm tài liệu tham khảo cho bài giảng của mình, Thư viện eLib trân trọng gửi tới các thầy cô bộ Giáo án GDCD 12 Công dân với các quyền tự do cơ bản. Các kiến thức được trình bày khoa học, chi tiết giúp các em học sinh hiểu được khái niệm, nội dung, ý nghĩa của các quyền tự do cơ bản của công dân: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm cũng như quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Quyền bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và quyền tự do ngôn luận. Hi vọng, bộ Giáo án này sẽ giúp các em học sinh dễ lĩnh hội kiến thức hơn

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Giáo án GDCD 12 bài 6

GIÁO ÁN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 12

BÀI 6: CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN TỰ DO CƠ BẢN

 

I. Mục tiêu

1. Về kiến thức:

  • Nêu được khái niệm, nội dung, ý nghĩa của các quyền tự do cơ bản của công dân: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể ; Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng , sức khỏe , danh dự và nhân phẩm ; Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; Quyền bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại , điện tín ; Quyền tự do ngôn luận.
  • Trình bày được trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân.

2. Về kĩ năng:

  • Biết phân biệt những hành vi thực hiện đúng và hành vi xâm phạm quyền tự do cơ bản của công dân.
  • Biết tự bảo vệ mình trước các hành vi xâm phạm của người khác.

3. Về thái độ:

  • Có ý thức bảo vệ các quyền tự do cơ bản của mình và tôn trọng các quyền tự do cơ bản của người khác
  • Biết phê phán các hành vi xâm phạm tới các quyền tự do cơ bản của công dân.

II. Nội dung bài học

1. Trọng tâm:

  • Khái niệm, nội dung, ý nghĩa các quyền tự do cơ bản của công dân, bao gồm:
    • Quyền bất khả xâm phạm về thân thể ;
    • Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng , sức khỏe , danh dự và nhân phẩm ;
    • Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; Quyền bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện
    • thoại , điện tín ;
    • Quyền tự do ngôn luận.
  • Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân.

III. Phương pháp

  • Thuyết trình, đàm thoại, thảo luận nhóm, tạo tình huống, trực quan,…

IV. Phương tiện dạy.

  • Tranh, ảnh, sơ đồ, giấy khổ to.
  • Có thể sử dụng vi tính, máy chiếu.

V. Phương tiện dạy.

1. Ổn định tổ chức lớp :

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Giảng bài mới:

  • Ngày nay, trên đất nước chúng ta, mỗi công dân có những quyền tự do nhất định được ghi nhận trong Hiến pháp, đó là các quyền tự do cơ bản của công dân. Các quyền tự do này được đặt ở vị trí đầu tiên, quan trọng nhất, không thể tách rời đối với mỗi cá nhân. Trong bài học này, chúng ta tìm hiểu các quyền tự do cơ bản của công dân như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể ; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm an tòan và bí mật thư tín, điện thọai, điện tín; quyền tự do ngôn luận.

Phần làm việc của Thầy và Trò

Nội dung chính của bài học

GV giảng:

Ở mỗi nước, các quyền tự do cơ bản của công dân đều được ghi nhận trong Hiến pháp và trong các luật liên quan. Đây thực chất là các quyền được sống với tư cách là con người trong xã hội, công dân của một nước.

Quyền tự do cơ bản của công dân là chế định pháp lý cơ bản của Luật Hiến pháp, xác định địa vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội, là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở nước ta, công dân có các quyền tự do cơ bản về thân thể, tự do trong đời sống tinh thần, tự do lao động và sáng tạo, tự do kinh doanh, học tập và nghiên cứu khoa học…

Tại sao các quyền này gọi là các quyền tự do cơ bản của công dân ?

 Vì :

- Các quyền này quy định mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và công dân.

- Các quyền này được nghi nhận trong Hiến pháp – luật cơ bản của Nhà nước.

Bài học này không đặt ra nhiệm vụ tìm hiểu tất cả các quyền tự do cơ bản của công dân, mà chỉ tìm hiểu về các quyền tự do thân thể và các quyền tự do liên quan đến đời sống tinh thần của công dân. Đồng thời, trong các quyền tự do về thân thể và đời sống tinh thần của công dân cũng bao gồm nhiều loại quyền khác nhau, trong đó chúng ta chỉ tìm hiểu : Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân ; Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm ; Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân ; Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín ; Quyền tự do ngôn luận.

Tiết 1:

Đơn vị kiến thức 1:

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân

♦ Mức độ kiến thức:

HS  cần nắm được:

- Thế nào là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

- Nội dung quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

♦ Cách thực hiện:

GV dùng các phương pháp thuyết trình, đàm thoại, thảo luận nhóm,…

GV sử dụng tình huống trong SGK:

Oâng A mất xe máy và khẩn cấp trình báo với công  an xã. Trong việc này, ông A khẳng định anh X là người lấy cắp. Dựa vào lời khai báo của ông A, công an xã đã ngay lập tức bắt anh X và ép buộc  anh phải nhận là đã lấy cắp.

Việc làm của công an xã là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

GV hỏi:

­ Tại sao việc làm này của công an xã là vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân?

HS trao đổi, trả lời.

Trên cơ sở HS đã chuẩn bị bài học, GV đặt câu hỏi:

­ Thế nào quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân?

Cảø lớp trao đổi, đàm thoại.

GV giảng:

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể có nghĩa là: Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn  của Viện Kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Theo nội dung của quyền bất khả xâm phạm về thân thể thì không ai được tự tiện bắt người. Hành vi tự tiện bắt người là hành vi xâm phạm đến quyền tự do về thân thể của công dân, là hành vi trái pháp luật.

GV hỏi tiếp:

­ Vậy có khi nào pháp luật cho phép bắt người không?

Lớp trao đổi, đàm thoại.

GV kết luận:

Có 3 trường hợp pháp luật cho phép bắt người:

+ Trường hợp 1: Viện Kiểm soát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép có quyền quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam, khi có căn cứ xác đáng chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội.

+ Trường hợp 2: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (theo nội dung trong SGK).

+ Trường hợp 3: Bắt người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (theo nội dung trong SGK).

GV lưu ý:

+ Trong trường 1, việc bắt người chỉ được tiến hành khi có quyết định của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án.

+ Trong trường 2, việc bắt người khẩn cấp cũng cần phải có phê chuẩn của Viện Kiểm sát sau khi tiến hành bắt.

+ Trong trường 3, người đang bị truy nã là người đang có lệnh truy nã của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án, nghĩa là đã có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi đó, ai cũng có quyền bắt và giải ngay đến Cơ quan công an, Viện Kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Còn đối với người đang phạm tội quả tang thì ai cũng có quyền bắt mà không cần phải có lệnh hay quyết định của cơ quan Nhà nước.

 Như  vậy, chỉ có người đang phạm tội quả tang thì mới có thể bị bắt mà không cần lệnh hay quyết định nào cả; còn các trường hợp khác thì việc bắt người đều phải có quyết định hoặc phê chuẩm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

GV hỏi:

­ Tại sao pháp luật lại cho phép bắt người trong những trường hợp này?

HS trao đổi, đàm thoại.

GV kết luận:

Vì để giữ gìn trật tự, an ninh, để điều tra tội phạm, để ngăn chặn tội phạm.

GV giúp HS rút ra ý nghĩa của quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân.

Tiết 2:

Đơn vị kiến thức 2:

Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân

♦ Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

+ Thế nào là quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân.

+ Nội dung quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng và sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân.

+ Ý nghĩa của quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng và sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân.

♦ Cách thực hiện:

GV sử dụng phươngpháp đàm thoại, thuyết trình, thảo luận nhóm, đóng vai,… để dạy đơn vị kiến thức này.

GV lần lượt nêu các câu hỏi đảm thoại:

­ Theo em, nếu tính mạng một người luôn bị đe doạ thì cuộc sống của người đó sẽ như thế nào?

­ Nếu tính mạng của nhiều người bị đe doạ thì xã hội sẽ thế nào? Có phát triển lành mạnh được không?

Sau khi HS trả lời, GV chốt lại:

Nếu tính mạng của một người luôn bị đe doạ thì cuộc sống của người đó thật bất an, không thể yên ổn để lao động, học tập, công tác, vì tính mạng là vốn quý nhất của con người. Nếu tính mạng của nhiều người luôn bị đe doạ thì trật tự, an ninh xã hội không được bảo đảm, xã hội sẽ dễ rơi vào tình trạng hỗn loạn, không thể phát triển lành mạnh được.

GV sử dụng ví dụ trong SGK cho HS đóng vai:

A và B là hàng xóm của nhau. Một hôm, đàn gà của A sang vườn nhà B bới tung một luống rau cải, bực mình B chửi A và hai bên to tiếng với nhau. Tức thì A đã dùng gậy đánh vào chân B làm B phải vào bệnh viện điều trị và để lại thương tật ở chân. Trong trường hợp này, A đã xâm phạm tới sức khoẻ của B, vi phạm quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ của công dân.

GV sử dụng tình huống trong SGK cho HS thảo luận:

A vì ghen ghét B nên đã tung tin xấu về B có liên quan đến việc mất tiền của một bạn ở lớp.

Em hãy nêu một vài ví dụ về hành vi xâm phạm đến danh dự và nhân phẩm của người khác.

GV nêu câu hỏi đàm thoại:

­ Thế nào là xâm phạm tới danh dự và nhân phẩm của người khác?

Cả lớp đàm thoại.

GV chốt ý.

GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm theo câu hỏi:

­ Đối với quyền này của công dân, pháp luật nước ta nghiêm cấm những hành vi nào?

Các nhóm trình bày kết quả thảo luận.

GV nhận xét, điều chỉnh, bổ sung.

GV kết luận:

 Pháp luật nước ta nghiêm cấm những hành vi:

+ Đánh người (đặc biệt là đánh người gây thương tích, làm tổn hại cho sức khoẻ của người khác)

+ Giết người, đe doạ giết người, làm chết người.

+ Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

GV giúp HS rút ra ý nghĩa của quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng và sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Tiết 3:

Đơn vị kiến thức 3

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân

a Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

- Thế nào là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.

- Nội dung quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.

a Cách thực hiện:

GV sử dụng phương pháp đàm thoại, thảo luận nhóm, thuyết trình,…

GV nêu câu hỏi đàm thoại:

­ Có thể tự ý vào chỗ ở của người khác khi chưa được người đó đồng ý hay không?

Cả lớp trao đổi, đàm thoại.

GV kết luận:

Về nguyên tắc, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó cho phép. Tự tiện vào chỗ ở của người khác là vi phạm pháp luật, tuỳ theo mức độ vi phạm khác nhau mà có thể bị xử lí theo pháp luật.

GV nêu tiếp câu hỏi:

­ Có khi nào pháp luật cho phép khám xét chỗ ở của công dân không? Đó là những trường hợp nào?

Cả lớp trao đổi, phát biểu.

GV kết luận:

Pháp luật cho phép khám chỗ ở của một người trong hai trường hợp:

+ Khi có căn cứ để khẳng định chỗ ở, địa điểm của người nào đó có công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm hoặc có đồ vật liên quan đến vụ án.

+ Khi cần bắt người đang bị truy nã hoặc người phạm tội đang lẫn tránh ở đó.

Trong cả hai trường hợp được phép khám xét chỗ hoặc nơi làm việc của công dân thì việc khám xét cũng phải theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật:

♦ Chỉ được tiến hành trong trường hợp thật cần thiết và chỉ những người do pháp luật quy định thuộc Viện Kiểm sát, Toà án nhân dân, Cơ quan điều tra mới có thẩm quyền ra lệnh khám.

♦ Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt chủ nhà hoặc người đã thành niên trong gia đình, có đại diện của chiùnh quyền xã (phường, thị trấn) và người láng giềng chứng kiến. Không được khám vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lí do vào biên bản.

GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm về bài tập tình huống trong SGK:

Oâng A mất một chiếc quạt điện. Do nghi ngờ con ông B lấy trộm nên ông A yêu cầu ông B cho vào nhà khám xét. Oâng B không đồng ý nhưng ông A cùng con trai cứ tự tiện xông vào nhà để khám. Theo em, hành vi của bố con ông A có vi phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân hay không? Giải thích vì sao?

HS thảo luận và cử đại diện trình bày kết quả.

GV kết luận:

Hành vi của bố con ông A đã vi phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, vì:

+ Chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thuộc Toà án, Viện Kiểm sát, Cơ quan điều tra mới có thẩm quyền khám chỗ ở của công dân. Bố con ông A không có thẩm quyến này.

+ Việc khám xét phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục (như hướng dẫn trên đây), mà không được tự tiện xông vào nhà để khám.

GV giúp HS hiểu ý nghĩa của quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.

Đơn vị kiến thức 4

Quyền được bảo đảm an tòan và bí mật thư tín, điện thọai, điện tín

♦ Mức độ kiến thức:

HS hiểu được khái niệm và nội dung quyền được đảm bảo an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín.

♦ Cách thực hiện:

GV sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, đàm thoại, đóng vai.

GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm theo các nội dung:

­ Thế nào là bí mật, an toàn thư tín của công dân?

­ Thế nào là quyền được đảm bảo an toàn và bí mật thư tín?

Các nhóm trình bày kết quả thảo luận, bổ sung ý kiến cho nhau.

GV kết luận:

+ Thư tín, điện thoại, điện tín là phương tiện sinh hoạt thuộc đời sống tinh thần của mỗi con người, thuộc bí mật đời tư của cá nhân, cần phải được bảo đảm an toàn và bí mật.

+ Quyền được đảm bảo an toàn và bí mật thư tín có nghĩa là:

 Không ai được tự tiện bốc mở, thu giữ, tiêu huỷ thư, điện tín của người khác.

 Chỉ những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong trường hợp cần thiết mới có quyền kiểm soát thư, điện thoại, điện tín của người khác.

 Người nào tự tiện bóc, mở thư, tiêu huỷ thư, điện tín của người khác sẽ bị xử lí theo pháp luật (xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật).

Đơn vị kiến thức 5  

Quyền tự do ngôn luận

→ Mức độ kiến thức:

HS hiểu được khái niệm và nội dung của quyền tự do ngôn luận.

→ Cách thực hiện:

GV sử dụng phương pháp đàm thoại, thảo luận nhóm.

GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm theo hai nội dung:

­ Kẻ bảng, phân biệt quyền tự do ngôn luận trực tiếp và tự do ngôn luận gián tiếp.

­ Trả lời câu hỏi: Là HS phổ thông, em đã thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình ở trường, lớp như thế nào?

Các nhóm trình bày kết quả thảo luận.

Các nhóm khác trao đổi, bổ sung.

GV kết luận.

Tiết 4:

Đơn vị kiến thức 6

Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân

→ Mức độ kiến thức:

HS hiểu được:

→ Nhà nước xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy các cơ quan bảo vệ pháp luật để bảo đảm và thưc hiện các quyền tự do cơ bản của công dân.

→Trách nhiệm của công dân: tìm hiểu pháp luật về các quyền tự do cơ bản; phê phán, đấu tranh, tố cáo các hành vi vi phạm; giúp đỡ cán bộ nhà nước thi hành công vụ; rèn luyện, nâng cao ý thức pháp luật.

→ Cách thực hiện:

GV sử dụng phương pháp thuyết trình và đàm thoại, thảo luận nhóm.

GV giảng giải cho HS hiểu rõ trách nhiệm của Nhà nước và công dân: Nhà nước bảo đảm các quyền tự do cơ bản của công dân; công dân thực hiện tốt các quyền tự do cơ bản của mình và tôn trọng các quyền tự do cơ bản của người khác.

GV hỏi:

­ Nhà nước bảo đảm các quyền tự do cơ bản của công dân như thế nào?

HS trao đổi, trả lời.

GV giảng:

Nhà nước đảm bảo bằng cách:

+ Xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật quy định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước về đảm bảo thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân.

(Ví dụ, Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003  quy định : “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án,, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”. Tương tự như vậy,  Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “... Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe doạ đén tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”).

+ Bằng pháp luật, Nhà nước nghiêm khắc trừng trị các hành vị vi phạm pháp luật, xâm phạm các quyền tự do cơ bản của công dân.

(Dẫn chứng minh hoạ:

Bộ luật Hình sự đã dành một chương, chương XII (từ Điều 93 - Điều 122) quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, đồng thời còn có các điều khoản khác ở chương XIV quy định trường trị các tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, xâm phạm chỗ ở của công dân, xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác,...

Chẳng hạn, Điều 104 Bộ luật Hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác : Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được liệt kê (như gây cố tật nhẹ cho nạn nhân, đối với trẻ em hoặc phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ, đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình) thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm).

+ Nhà nước xây dựng bộ máy các cơ quan bảo vệ pháp luật từ trung ương đến địa phương ( bao gồm: Toà án, Viện Kiểm sát, Công an, Quân đội, Cơ quan điều tra trong các ngành, lĩnh vực có liên quan) để bảo vệ các quyền tự do cơ bản của công dân.

GV tổ chức đàm thoại cho cả lớp:

­ Theo em, công dân có thể làm gì để thực hiện các quyền tự do cơ bản của mình?

GV kết luận:

+ Công dân cần học tập, tìm hiểu pháp luật.

+ Công dân có trách nhiệm phê phán, đấu tranh và tố cáo các hành vị vi phạm các quyền tự do cơ bản

+ Công dân cần tích cực giúp đỡ cán bộ có thẩm quyền thi hành quyết định bắt người, khám người, khám chỗ ở trong trường hợp cần thiết mà pháp luật quy định.

+ Ngoài ra, công dân dân cần rèn luyện nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân.

  

1. Các quyền tự do cơ bản của công dân

a) Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân

Thế nào là …?

   Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

ï Nội dung :

    Không một ai, dù ở cương vị nào có quyền tự ý bắt và giam, giữ người vì những lí do không chính đáng hoặc do nghi ngờ không có căn cứ.

   Trong một số trường hợp cần thiết phải bắt, giam, giữ người để giữ gìn trật tự, an ninh, để điều tra tội phạm, để ngăn chặn tội phạm thì những cán bộ nhà nước có thẩm quyền thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và một số cơ quan khác được quyền bắt và giam, giữ người, nhưng  phải theo đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.

ï Ý nghĩa:

   Nhằm ngăn chặn mọi hành vi tùy tiện bắt giữ người trái với quy định của pháp luật, bảo vệ quyền con người – quyền công dân trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

b) Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân

Thế nào là…?

    Công dân có quyền được bảo đảm an tòan về tính mạng, sức khỏe, được bảo vệ danh dự và nhân phẩm; không ai được xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người khác.

Nội dung:

   Thứ nhất:  Không ai được xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người khác.

­ Không ai được đánh người; đặc biệt nghiêm cấm những hành vi hung hãn, côn đồ, đánh người gây thương tích, làm tổn hại cho sức khỏe của người khác.

­ Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác như giết người, đe dọa giết người, làm chết người.

   Thứ hai: Không ai được xâm phạm tới danh dự và nhân phẩm của người khác.

­ Không bịa đặt điều xấu, tung tin xấu, nói xấu, xúc phạm người khác để hạ uy tín và gây thiệt hại về danh dự cho người đó.

Ý nghĩa:

­ Nhằm xác định địa vị pháp lí của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và xã hội.

 ­ Đề cao nhân tố con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

c) Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân

Thế nào là …?

   Chỗ ở của công dân được Nhà nước và mọi người tôn trọng, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý. Chỉ trong trường hợp được pháp luật cho phép và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được khám xét chỗ ở của một người. Trong trường hợp này thì việc khám xét cũng không được tiến hành tùy tiện mà phải tuân theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Nội dung:

   Về nguyên tắc, không ai được tự tiện vào chỗ ở của người khác.Tuy nhiên, pháp luật cho phép khám xét chỗ ở của công dân trong các trường hợp sau:

­ Trường hợp thứ nhất, khi có căn cứ để khẳng định chỗ ở, địa điểm của người nào đó có công cụ, phương tiện (ví dụ: gậy gộc, dao, búa, rìu, súng,…) để thực hiện tội phạm hoặc có đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

­ Trường hợp thứ hai, việc khám chỗ ở, địa điểm của người nào đó được tiến hành khi cần bắt người đang bị truy nã hoặc người phạm tội đang lẫn tránh ở đó.

 Ý nghĩa quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân

­ Nhằm đảm bảo cho công dân – con người có được cuộc sống tự do trong một xã hội dân chủ, văn minh.

­ Tránh mọi hành vi tự tiện của bất kì ai, cũng như hành vi lạm dụng quyền hạn của các cơ quan và cán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

d) Quyền được bảo đảm an tòan và bí mật thư tín, điện thọai, điện tín

    Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu hủy thư, điện tín của người khác; những người làm nhiệm vụ chuyển thư, điện tín phải chuyển đến tay người nhận, không được giao nhầm cho người khác, không được để mất thư, điện tín của nhân dân.

    Chỉ có những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và chỉ trong những trường hợp cần thiết mới được tiến hành kiểm sóat thư, điện thọai, điện tín của người khác.

    Quyền được bảo đảm an tòan và bí mật thư tín, điện thọai, điện tín là điều kiện cần thiết để bảo đảm đời sống riêng tư của mỗi cá nhân trong xã hội. Trên cơ sở quyền này, công dân có một đời sống tinh thần thoải mái mà không ai được tùy tiện xâm phạm tới.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

e) Quyền tự do ngôn luận

   Công dân có quyền tự do phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

    Có nhiều hình thức và phạm vi để thực hiện quyền nay:

    ­  Sử dụng quyền này tại các cuộc họp ở các cơ quan, trường học, tổ dân phố,… bằng cách trực tiếp phát biểu ý kiến nhằm xây dựng cơ quan, trường học, địa phương mình.

    ­  Viết bài gửi đăng báo, trong đó bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước; về xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh; về ủng hộ cái đúng, cái tốt, phê phán và phản đối cái sai, cái xấu trong đời sống xã hội.

   ­ Đóng góp ý kiến, kiến nghị với các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong dịp đại biểu tiếp xúc với cử tri cơ sở, hoặc công dân có thể viết thư cho đại biểu Quốc hội trình bày, đề đạt nguyện vọng.

 2. Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực hiện các quyền tự do cơ bản của công dân

a) Trách nhiệm của Nhà nước

   ­  Xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật, bao gồm Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự,... trong đó có các quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước bảo đảm cho công dân được hưởng đầy đủ các quyền tự do cơ bản mà Hiến pháp và luật quy định.

   ­  Tổ chức và xây dựng bộ máy các cơ quan bảo vệ pháp luật, bao gồm Tòa án, Viện kiểm sóat, Công an,… thực hiện chức năng điều tra, kiểm sát, xét xử để bảo vệ các quyền tự do cơ bản, bảo vệ cuộc sống yên lành của mọi người dân.

b) Trách nhiệm của công dân

 Phải học tập, tìm hiểu để nắm được nội dung các quyền tự do cơ bản của mình.

 Có trách nhiệm phê phán, đấu tranh, tố cáo những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền tự do cơ bản của công dân.

 Tích cực tham gia giúp đỡ các cán bộ nhà nước thi hành quyết định bắt người, khám người trong những trường hợp được pháp luật cho phép.

 Tự rèn luyện, nâng cao ý thức pháp luật để sống văn minh, tôn trọng pháp luật, tự giác tuân thủ pháp luật của Nhà nước, tôn trọng quyền tự do cơ bản của người khác.

 

Trên đây là một đoạn nội dung trong giáo án Công dân với các quyền tự do cơ bản, để xem nội dung còn lại của giáo án và các giáo án khác mời quý thầy cô đăng nhập và tải về máy.

Bên cạnh đó, thầy cô có thể xem thêm bài giảng tại đây:

Và xem thêm giáo án bài tiếp theo:

Đồng bộ tài khoản