Giáo án Ngữ văn 9 bài 26: Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học

Chia sẻ: Đinh Thị Hiền | Ngày: | 3 giáo án

0
247
lượt xem
1
download
Xem 3 giáo án khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THCS để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Giáo án Ngữ văn 9 bài 26: Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học

Giáo án Ngữ văn 9 bài 26: Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học
Mô tả bộ sưu tập

Mời quý thầy cô giáo tham khảo Bộ sưu tập Giáo án Ngữ văn 9 bài 26: Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học để nâng cao kĩ năng và kiến thức soạn giáo án theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình GDPT bậc học sinh. Bộ giáo án được chọn lọc từ các giáo viên đang giảng dạy với nội dung phù hợp quy định Bộ GD và súc tích giúp học sinh dễ dàng hiểu kỹ năng viết bài nghị luận hoàn chỉnh có bố cục rõ ràng, hệ thống luận điểm, luận cứ mạch lạc. Qua đó, đánh giá năng lực cảm thụ văn thơ của học sinh qua bài phân tích. Chúc quý thầy cô giáo giảng dạy tốt.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Giáo án Ngữ văn 9 bài 26: Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học

Giáo án Ngữ văn 9 bài 26: Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học
Tóm tắt nội dung

I - Mục tiêu bài Viết bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học

1 - Kiến thức:
- Đánh giá năng lực cảm thụ văn thơ của học sinh qua bài phân tích.
- Đánh giá nhận thức của học sinh qua kiểu bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
2- Kỹ năng:
- Viết bài nghị luận hoàn chỉnh có bố cục rõ ràng, hệ thống luận điểm, luận cứ mạch lạc.
3- Thái độ:
- Giáo dục ý thức tự giác làm bài kiểm tra cho học sinh.

II - Phương tiện thực hiện

- Thầy: giáo án, đề bài
- Trò: giấy bút

III - Cách thức tiến hành

- Làm bài

IV- Tiến trình bài tập làm văn số 7- nghị luận văn học

A -Tổ chức:
B - Kiểm tra
C - Bài mới:
A - Đề bài: Phân tích mạch cảm xúc trong bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.
II – Đáp án – Thang điểm
1 - Mở bài (2đ)
* Giới thiệu tác giả:
- Viễn Phương tên khai sinh Phan Thanh Viễn (1928) An giang.
- Là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ miện Nam thời chống Mĩ.
*Tác phẩm.
- Sáng tác tháng 4/1976 in tron tập “Như mấy mùa xuân”.
- Nội dung: Cảm hứng bao trùm trong bài thơ là niềm xúc động, thiêng liêng, thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi tác giả từ miền Nam ra viếng lăng Bác.
2 - Thân bài: Phân tích giá trị nghệ thuật và nội dung bài thơ.
*Khổ thơ đầu: Câu thơ “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” chỉ gọn như một thong báo, nhưng lại gợi ra tâm trạng xúc động của một người từ chiến trường miền Nam sau bao năm mong mỏi giờ mới được ra viếng Bác. Hình ảnh đầu tiên mà tác giả thấy được là ấn tượng đậm nét về cảnh quản bên lăng Bác là hàng tre. Thì ra, đến đây, nhà thơ lại một hình ảnh hết sức thân thuộc của làng quê, của đất nước Việt Nam, đã thành một biểu tượng của dân tộc: Cây tre. Cây tre đã thành cây tre Việt Nam, vì là biểu tượng của sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc “Bão táp mưa sa đứng thẳng hang”. Hình ảnh hang tre bên lăng Bác sẽ được lặp lại ở câu thơ cuối bài, với một nét nghĩa bổ sung: cây tre trung hiếu. Sự lặp lại như thế tạo cho bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc và dòng cảm xúc được trọn vẹn. Cách lặp lại hình ảnh, chi tiết ở đầu và cuối cũng thấy ở không ít tác phẩm, cả thơ và truyện (Bài Đoàn thuyền đánh cá có câu thơ “Câu hát căng buồm cùng gió khơi)
*Khổ thơ thứ hai được tạo nên từ hai cặp với những hình ảnh thực và ẩn dụ song đôi:
Ngày ngày………….
……………………..rất đỏ.
Câu thơ trên là một hình ảnh thực, câu dưới là một hình ảnh ẩn dụ vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ (như mặt trời) vừa thể hiện được sự tôn kính của nhân dân, của nhà thơ đối với Bác Hồ.
-“Dòng người đi trong thương nhớ” là hình ảnh thực, còn câu sau “Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” là một ẩn dụ đẹp và rất sang tạo của nhà thơ, thể hiện tấm lòng thành kính của nhân dân ta đối với Bác.
*Khổ thơ thứ ba diễn tả cảm xúc và suy nghĩ của tác giả khi vào trong lăng. Khung cảnh và không khí thanh tĩnh như ngưng kết cả thời gian và không gian ở bên trong lăng Bác đã được nhà thơ gợi tả rất đạt bằng hai câu thơ giản dị:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sang dịu hiền.
- Câu thơ diễn tả chính xác và tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm và ánh sang dịu nhẹ, trong trẻo của không gian trong lăng Bác. Đồng thời, hình ảnh vầng trăng dịu hiền lại gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sang trong của Bác và những vần thơ tràn đầy ánh trăng của Người.
-Tâm trạng xúc động của tác giả được biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ sâu xa:
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.
Bác vẫn còn mãi với non song đất nước, như trời xanh còn mãi (Tố Hữu viết: “Bác sống như trời đất của ta”. Người đã hóa thành thiên nhiên song núi, đất nước, dân tộc. Dù vẫn tin như thế nhưng không thể không đau xót vì sự ra đi của Người.
- Nỗi đau xót đã được nhà thơ biểu hiện rất cụ thể, trực tiếp:
Mà sao nghe nhói ở trong tim.
*Khổ thơ thứ tư diễn ta tâm trạng lưu luyến của nhà thơ muốn được ở mãi bên lăng Bác.
Nhưng tác giả cũng biết rằng đến lúc phải trở vể miền Nam, và chỉ có thể gửi tâm lòng mình bằng cách hóa thân, hòa nhập vào những cảnh vật ở bên lăng Bác: muốn làm con chim cất tiếng hót, muốn làm bong hoa tỏa hương, và hơn hết, muốn làm cây tre trung hiếu nhập vào cùng hang tre bát ngát bên lăng Bác.
*Nghệ thuật:
- Bài thơ có giọng điệu rất phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc. Đó là giọng vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào, thể hiện đúng tâm trạng xúc động khi vào lăng viếng Bác. Giọng điệu ấy được tạo nên bởi nhiều yếu tố: thể thơ, nhịp điệu của các câu thơ, từ ngữ và hình ảnh.
- Thể thơ và nhịp điệu: thể thơ 8 chữ nhưng có dòng 7 chữ hoặc 9 chữ. Cách gieo vần trong từng khổ cũng không cố định, có khi liền, có khi cách. Nhịp của các khổ thơ nhìn chung là nhịp chậm diễn tả sự trang nghiêm, thành kính lắng đọng trong tâm trạng nhà thơ. Riêng khỏ cuối nhanh hơn, với điệp từ muốn làm được lặp ba lần, thể hiện mong ước tha thiết, và nỗi lưu luyến của tác giả.
- Hình ảnh thơ trong bài có nhiều sáng tạo, kết hợp cả hình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Đặc sắc nhất là những hình ảnh ẩn dụ- biểu tượng (mặt trời trong lăng, tràng hoa, trời xanh, vầng trăng) vừa quen thuộc, gần gũi với hình ảnh thức, lại vừa sâu sắc, có ý nghĩa khái quát và có giá trị biểu cảm.
3 - Kết luận.
Tóm lại, qua bốn khổ thơ khá cô đọng, nhà thơ đã thể hiện được những niềm xúc động tràn đầy và lớn lao trong lòng khi viếng lăng Bác, những tình cảm thành kính, sâu sắc với Bác Hồ.
*Vể hình thức: Trình bày sạch sẽ, các đoạn văn, dẫn chứng được rõ ràng, bố cục 3 phần.
- Nội dung: đầy đủ các ý, diễn đạt giàu cảm xúc.
- Không mắc lỗi chính tả.

V - Củng cố bài tập làm văn số 7 - nghị luận văn học

- Thu bài
- Rút kinh nghiệm giờ làm bài

VI - Hướng dẫn về nhà

- Ôn lại thật kỹ kiểu bài nghị luận
- Chuẩn bị bài luyện nói nghị luận về 1 đoạn thơ, bài thơ.

Đồng bộ tài khoản