Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) Sinh học 12

Chia sẻ: An | Ngày: | 3 tài liệu

0
123
lượt xem
0
download
Xem 3 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) Sinh học 12

Mô tả BST Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) Sinh học 12

Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo bộ sưu tập Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) trên thư viện eLib của chúng tôi. Hi vọng rằng, các tài liệu trong bộ sưu tập do chúng tôi sưu tầm và tổng hợp sẽ giúp ích cho công tác dạy và học của quý thầy cô giáo và các em học sinh. Chúc quý thầy cô giáo giảng dạy hay, các em học sinh học tập tốt.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP

Tóm tắt Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) Sinh học 12

Bộ sưu tập Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) là một trong những BST đặc sắc của eLib, được chọn lọc từ hàng trăm mẫu tư liệu một cách kỹ lưỡng, mời các bạn tham khảo đoạn trích sau đây:

I. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ MENĐEN
Gregor Johann Mendel (20 tháng 7, 1822 – 6 tháng 1, 1884) là một nhà khoa học, một linh mục Công giáo người Áo, ông được coi là "cha đẻ của di truyền hiện đại" vì những nghiên cứu của ông về đặc điểm di truyền của đậu Hà Lan.
Mendel chỉ ra rằng đặc tính di truyền tuân theo những quy luật nhất định, ngày nay chúng ta gọi là Định luật Mendel. Nội dung định luật của ông rất đơn giản, tuy nhiên, khi ông còn sống, ý nghĩa và tầm quan trọng trong các công trình nghiên cứu của ông không được công nhận, người ta cũng không quan tâm đến các nghiên cứu của ông.
Đến tận đến thế kỷ 20 các kết luận của ông mới được công nhận, khi đó ông được tôn vinh như là nhà khoa học thiên tài, một danh hiệu ông xứng đáng được nhận từ lúc sinh thời.
Ngày nay người ta vẫn xem năm 1866 là mốc đánh dấu cho sự ra đời của Di truyền học và Mendel là cha đẻ của ngành này.
Mendel sinh ra trong một gia đình nói tiếng Đức ở Hynčice thuộc Đế quốc Áo (nay là Cộng hòa Séc). Ông là con trai của Anton và Rosine Mendel. Họ sinh sống và làm việc trong một nông trại vốn đã được gia tộc Mendel sở hữu trong suốt 130 năm.
Xuất thân trong một gia đình nông dân, Mendel làm việc như một thợ làm vườn, nghiên cứu về cách nuôi ong. Thuở bé, học lực của ông cũng tốt, do đó một giáo sĩ cùng quê phải để mắt đến ông. Song, ngoài việc học ông cũng phải làm việc kiếm sống, do số tiền cha mẹ cung cấp cho Mendel không được bao nhiêu.
Nhờ sự tiến cử của giáo viên dạy vật lý của ông tên Friedrich Franz, ông được nhận vào học tại Tu viện Thánh Thomas ở Brno năm 1843. Với sự hỗ trợ của Cha cố Napp, vào năm 1851 ông được gửi tới Đại học tổng hợp Viên để nghiên cứu, ở đây ông nghiên cứu về toán học và khoa học.
Vào năm 1853, Gregor Mendel hoàn tất việc học tại Viên, và quay về tu viện. Khi Mendel 31 tuổi, ông đến giảng dạy tại Trường Cao đẳng thực hành Thành phố Brunn.
Năm 1900 ba nhà khoa học Hugo de Vries người Hà Lan, Carl Correns người Đức và Erich von Tschermak làm việc độc lập với nhau, đã tình cờ đọc được các báo cáo của Mendel. Họ tiến hành lặp lại các thí nghiệm thực vật và đều nhận thấy tính đúng đắn của Định luật Mendel. Như vậy, Di truyền học chào đời vào năm 1900.

II. MỘT SỐ KÝ HIỆU VÀ KHÁI NIỆM THƯỜNG DÙNG TRONG DI TRUYỀN HỌC
1. Tính trạng

Khái niệm: Là đặc điểm về hình thái, cấu tạo, sinh lí riêng của một cơ thể nào đó mà có thể làm dấu hiệu để phân biệt với cơ thể khác.
Phân loại: Có hai loại tính trạng:
– Tính trạng tương ứng: là những biểu hiện khác nhau của cùng một tính trạng.
– Cặp tính trạng tương phản: là hai trạng thái khác nhau của cùng một tính trạng nhưng biểu hiện trái ngược nhau.
Ví dụ cặp tính trạng tương phản:
– Ở đậu Hà Lan, tính trạng màu sắc hạt biểu hiện hai trạng thái: Hạt Vàng <> Hạt xanh.
– Ở người, tính trạng hình dạng tóc biểu hiện hai trạng thái: Tóc thẳng <> Tóc quăn ….
2. Tính trạng trội, tính trạng lặn
– Tính trạng trội: Là tính trạng biểu hiện khi có kiểu gen ở trạng thái đồng hợp tử trội hoặc dị hợp tử.
Trên thực tế có trội hoàn toàn và trội không hoàn toàn.
– Tính trạng lặn: Là tính trạng chỉ xuất hiện khi kiểu gen ở trạng thái đồng hợp lặn.
3. Alen và cặp alen
– Alen: Mỗi trạng thái khác nhau của cùng một gen (VD: alen A, a).
– Cặp alen: Hai alen giống nhau hay khác nhau thuộc cùng một gen trên cặp NST tương đồng ở sinh vật lưỡng bội.
VD: AA, Aa, aa
– Gen không alen: Là các trạng thái khác nhau của các cặp gen không tương ứng tồn tại trên các NST không tương đồng hoặc nằm trên cùng một NST thuộc một nhóm liên kết. 

ELib mong BST Lý thuyết về Quy luật phân li (Quy luật Menden) sẽ giúp cho các em có thêm nguồn tư liệu tham khảo.
Đồng bộ tài khoản