Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
58
lượt xem
0
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà

Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà
Mô tả bộ sưu tập

Nhằm hỗ trợ tối đa việc giảng dạy của quý thầy cô giáo, việc học tập của các em học sinh, chúng tôi đã sưu tầm và tổng hợp các tài liệu hay tạo thành bộ sưu tập Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ Văn.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà

Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà
Tóm tắt nội dung

Mời bạn tham khảo đoạn trích trong BST Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà của thư viện eLib dưới đây:

Tản Đà là nhà thơ có nhiều thơ xuân nhất so với các nhà thơ mới cũng như thơ cũ. Từ những bài đầu tiên khi nhà Nho lạc đệ bắt đầu vứt bút lông dùng bút sắt vào năm 1915, cho tới khi qua đời vào năm 1939, ông đã sáng tác khoảng trên hai chục bài thơ xuân.
Những bài thơ khai bút của Tản Đà ở tuổi ba mươi thường là những vần tự trào với nụ cười tươi và giòn giã, phản ánh niềm tin vào tài năng và tương lai. Ngày ấy, cậu ấm Hiếu sau khi trượt thi khoa Nhâm Tý (1912), chán nản vì cuộc tình đầu với nàng Đỗ thị, cô hàng sách ở phố Hàng Bồ tan vỡ, đã có lúc xúc cảm, dạm bán áo đoạn và viết những lời nghe mà dễ cảm thông cho bậc tài hoa duyên tình và công danh lận đận:

Cử tú không mà rể cũng không
Còn mang áo đoạn để ai trông!

Kẻ đa sầu, đa cảm và đa tài thường để lòng hòa nhịp với 'mạch nước sông Đà" và tâm hồn thả theo "ngàn mây non Tản" đã bắt đầu chuyển hướng đời sau khi lập gia đình vào năm 1915 vào lúc thi cử cũ bắt đầu bãi bỏ. Với truyền thống kẻ sĩ thờ ba lý tưởng: 'tối thương lập đức, kỳ thứ lập ngôn, ký thứ lập công' (cao nhất là việc lập đức để cho đời đức sáng của mình cho đời noi theo, kế tiếp là việc lập ngôn để lại lời dạy thế nhân, thứ ba mới tới lập công danh), từ đó Tản Đà không còn lưu luyến với việc ra làm phụ mẫu của dân nữa mà quay sang dùng văn mặc để làm công việc "lập ngôn," nghĩa là dùng ngòi bút để thực hiện hoài bão tài bồi văn hóa, dựng lại kỷ cương cho đời.
Trong thâm tâm Tản Đà tin rằng mình bị Trời đày về tội ngông và giao cho nhiệm vụ truyền bá thuyết Thiên lương cho nhân loại để chuộc tội, Trong bài Hầu Trời viết vào năm 1921 nhà thơ đã bày tỏ ý này:

Trời rằng: "không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc thiên lương của nhân loại
Cho con xuống thuật cho đời hay."

Tin vào khả năng của mình và cũng tin việc truyền bá thuyết thiên lương cho đời là một thiên chức mà ông phải làm, nên từ năm 1915, ông bắt đầu viết cho Đông Dương Tạp Chí của Nguyễn Văn Vĩnh và năm 1916 đã cho thi tập Khối Tình Con ra đời. Cho tới năm 1920, Tản Đà đã nổi danh với nhiều bài luận thuyết và các cuốn sách loại học làm người như Đài gương dạy đạo phụ nữ (1919) và nhiều cẩm nang giáo dục trẻ thơ như Lên Sáu (1919) và Lên Tám (1920).
Ta hãy nghe ông khai bút vào năm 1920 tức năm Canh Thân khi hai chữ Tản Đà đã chinh phục được độc giả ba Kỳ:

Năm nay tuổi đã ba mươi hai
Ta nghĩ mà ta chẳng giống ai
Khắp bốn phương trời không thước đất
Địa cầu những muốn ghé bên vai!

Con người nghệ sĩ, phóng túng như Tản Đà, cho dù đã lập gia đình nhưng vào tuổi tam thập ông vẫn chưa lập hiểu theo nghĩa chưa xây dựng được một tổ ấm. Rõ ràng nhà thơ vẫn tiếp tục sống trong cảnh mà ông từng tâm sự:

Bẩm trời cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó
Giấy người, mực người, thuê người in
Mướn của hàng người bán phường phố

Chí thì giàu, tài phong phú, nhưng tính lại phóng túng nên thi nhân thường gặp cảnh:

Văn chương hạ giới rẻ như bèo,
Kiếm được đồng lãi thực rất khó!
Kiếm được thì ít tiêu thì nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu 

Hy vọng rằng BST Những bài thơ xuân tiêu biểu của Tản Đà sẽ giúp quý thầy cô có thêm tư liệu tham khảo, giúp các em học sinh học tập tốt hơn.

Đồng bộ tài khoản