Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
178
lượt xem
1
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
Mô tả bộ sưu tập

Bộ sưu tập Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục sẽ mang lại cho các em học sinh những kiến thức bổ ích, cho quý thầy cô giáo những tài liệu giảng dạy hay nhất. Thư viện eLib hi vọng, bộ sưu tập này sẽ hữu ích đối với các thầy cô giáo và các em học sinh.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
Tóm tắt nội dung

Đây là một đoạn trích hay trong BST Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. Mời quý thầy cô tham khảo:

Những tài liệu mà chúng ta có về Nguyễn Dữ không nhiều. Tuy nhiên những tài liệu cũng không cung cấp cho chóng ta một cách chính xác về thân thế và sự nghiệp của ông. Những tài liệu lâu nay được các nhà nghiên cứu giới thiệu về Nguyễn Dữ cho thấy: Nguyễn Dữ là người xã Đoàn Lâm, huyện Gia Phóc (nay là Thanh Miện – Hải Dương). Năm sinh và năm mất chưa rõ, chỉ biết ông là con trai của Thượng thư Nguyễn Tường Phiêu- đậu Tiến sĩ thời Hồng Đức, năm 1496 – tức là năm cận cuối cùng của nhà Lê niên hiệu này. Nguyễn Dữ học rộng, tài cao, có thể là một trong những học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng có thể là bạn đồng học của Phùng Khắc Khoan. Nguyễn Dữ đã đậu hương tiến, thi hội tróng tam trường, có làm tri huyện Thanh Tuyền một năm rồi cáo quan về, lấy lý do phải phụng dưỡng mẹ già cho tròn đạo hiếu.
Chính vì còn có điều không rõ nên đã từng có hai giả thuyết về thân thế tác giả Truyền kỳ mạn lục.
- Giả thuyết thứ nhất dùa theo lời của Nguyễn Phương Đề trong “ Công dư tiệp kí”, Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, Bùi Huy Bích trong “ Hoàng Việt thi tuyển” cho rằng Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Giả thuyết này hiện đang tồn tại trong Giáo trình của Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Giả thuyết thứ hai mà Lại Văn Hùng dẫn theo Trần Ých Nguyên trong “ Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” lại cho rằng Nguyễn Dữ là người đồng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Lại Văn Hùng dự đoán “ Nguyễn Dữ sinh vào khoảng thập niên cuối thế kỉ XV và mất khoảng thập niên thứ tư thế kỉ XVI, thọ 50 tuổi” và không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Dù còn có những điều không rõ như¬ trên nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: Nguyễn Dữ sinh ra vào khoảng cuối thế kỉ XV và lớn lên vào nửa đầu thế kỉ thứ XVI. Đấy là thời kì nhà nước phong kiến Việt Nam bắt đầu đi vào con đường suy yếu, và sự suy yếu đã nhanh chóng trở nên trầm trọng. Chỉ trong vòng ba mươi năm từ khi Lê Thánh Tông mất đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua đã có tới 6 ông vua lên ngôi rồi bị giết hoặc bị phế truất. Có vị bị coi là “vua quỷ”, có vị bị coi là “vua lợn”. Những gì mà Lê Thánh Tông – vị vua được coi là anh minh số một của nền phong kiến Việt Nam – dầy công xây dựng đã nhanh chóng sụp đổ. Lê Hiển Tông đã từng than thở về tình trạng quan trường hư nát và dù đã có chấn chỉnh nhưng vẫn không cứu vãn được tình trạng suy vi đó. Đại Việt sử kí toàn thư đã viết: “ Sao mà những kẻ tại chức đều bị vị, không nghĩ đến phép tắc của triều đình. Người vì nước quên nhà thì Ýt, người bỏ phận thiếu chức thì nhiều, tha giàu bắt nghèo, không chừa thãi cũ tham tiền khoét của vẫn theo lối xưa”. Thế rồi “chính sự phiền hà, lòng dân oán hận”, “thổ méc bừa bãi” lại thêm đại hạn, đói khổ, nhân dân thất nghiệp, trộm cắp nổi dậy. Vua hoang dâm xa xỉ, bất lực hoặc chết yểu, “ các quyền thần đánh lẫn nhau, giết nhau dưới cửa khuyết, dây máu chốn kinh sư”. Chiến tranh loạn lạc xảy ra khắp nơi: năm 1511, Thân Duy Nhạc dấy quân ở Kinh Bắc, Trần Tuân làm loạn ở Sơn Tây, năm 1512, Nguyễn Nghiêm loạn ở Sơn Tây, Hưng Hoá, năm 1515, loạn Phùng Chương ở Tam Đảo, loạn Đặng Hân, Đặng Ngật ở Thanh Hoá, loạn Trần Công Ninh ở Yên Lãng, Trần Cảo khởi binh đánh nhà Lê. Những cuộc chiến tranh Êy đã khiến cho suốt cho cả vùng Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây đến Thanh Hoá và cả kinh đô Thăng Long chìm đắm trong khói lửa chiến tranh. Thêm vào nữa là cuộc chiến tranh Lê – Mạc, một cuộc chiến tranh dai dẳng, quyết liệt, một cuộc chiến mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng viết:

Cá đầm, sẻ bụi vì ai đuổi
Núi xương, sông máu thảm đầy vơi.

Tình trạng trên gây nên một sự xuống cấp, suy thoái trong hàng ngò Nho sĩ. Lê Quý Đôn đã từng than thở: “ Từ năm Đoan Khánh trở về sau, lời bàn luận sáng suốt bẵng đi, thãi cầu cạnh mỗi ngày một thịnh, người có chức Ýt giữ được phong độ thanh liêm, nhún nhường, trong triều đình không nghe có lời can gián, gặp có việc thì rụt rè, cẩu thả, thấy lúc nguy thì bán nước để toàn thân, dẫu người gọi là bậc danh nho, cũng đều yên tâm nhận sủng vinh phi nghĩa, rồi nào thơ, nào ca, trao đổi, khoe khoang, tán tụng lẫn nhau, tập tục sĩ phu thối nát đến thế là cùng…”
Đứng trước một hiện thực như¬ vậy, những nhà nho có khí tiết không thể tránh khỏi sự ngơ ngác, sự chán chường bởi sự đổ vỡ của niềm tin, lí tưởng. Không Ýt người đã từ quan mà về, trong sè Êy có Nguyễn Dữ. Là con của Nguyễn Tường Phiêu - mét bậc đại khoa, tước vị vào hàng nhất phẩm - Nguyễn Dữ đã cáo quan mà về, phản ứng Êy của ông là biểu hiện của một sự “phát phẫn” của một trí thức, một danh sĩ trước thời cuộc. Nguyễn Dữ cảm thấy xã hội Êy không có chỗ cho mình. Cáo quan về, viết Truyền kỳ mạn lục, đấy là một hiện tượng “phát phẫn trứ thư” (phát phẫn viết sách) của ông. Nguyễn Dữ đã dồn vào tác phẩm của mình tất cả những điều mắt thấy tai nghe với một mong muốn khuyến khích điều thiện, răn phạt cái ác, thương xót kẻ cùng quẫn, oan khuất.
 

ELib mong rằng BST Nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục sẽ là tài liệu hữu ích cho quý thầy cô và các bạn học sinh.
Đồng bộ tài khoản