Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
737
lượt xem
20
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Mô tả bộ sưu tập

Tìm kiếm và chia sẻ tài liệu là nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội hiện nay. Hiểu được điều đó, thư viện eLib đã biên soạn và sắp xếp các bộ bài văn Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận tạo thành bộ sưu tập dưới đây để quý thầy cô và các em thuận tiện trong quá trình tham khảo. Bộ sưu tập sẽ giúp các em nắm được nội dung chính trong khổ thơ thứ 2, biết chú ý đến những hình ảnh thơ đặc sắc trong khổ thơ này khi làm bài văn phân tích. Chúng tôi mong rằng quý thầy cô sẽ có thêm những tư liệu hay trong giảng dạy, các em học sinh có thêm nhiều ý tưởng khi viết văn.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo đoạn văn Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận được trích từ bộ sưu tập cùng tên dưới đây:

I/ Mở bài Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

“Tràng giang” là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ “Lửa thiêng” (1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”. Tác giả đã có lần nói: “Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn”, “Tràng giang” tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế “sầu trăm ngả".

II/ Thân bài Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của “Tràng giang” :
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đây tiếng làng xa vãn chợ chiều,
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót:
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.
Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sông., ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô “lơ thơ” như nối tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi “đìu hiu” gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ “đìu hiu” gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:
“Non Kì quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phi gió thổi đìu hiu mấy gò".
( Chinh phụ ngâm)
Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảng khắc tan chợ, vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” đã làm nỗi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà Thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm “lơ thơ” và “đìa hiu”, có vần lưng “nhỏ - gió”, có vần chân: “hiu - chiều”. Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:
“Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,
Lả lả cành hoang bóng trở chiểu...”
( Thơ duyên)
Các điệp thanh: “Nhỏ nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả”; các vần thơ, như vần lưng “nhỏ" với “gió”, vần chân “xiêu” với “chiều”. Những vần thơ “tươi nhạc tươi vần” ấy đã trở thành thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học.
Trở lại đoạn thơ trong bài “Trùng giang” của Huy Cận, ta như được nhập hồn mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời, vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh); và “Trời cao xanh ngắt - ô kìa...” (Tiếng sáo Thiên Thai); “xanh biếc trời cao, bạc đất bằng” (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, “sâu chót vót” :
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”
Bầu trời và lòng sông “sóng gợn” là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường nói “cao chót vót” và “sâu thăm thẳm”, nhưng Huy Cận lại cảm nhận là “sâu chót vót” vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: “nắng xuốn ” và “trời lên”, vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mỏng đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ.

Hãy tham khảo toàn bộ bài văn Phân tích khổ thơ thứ 2 trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận  trong bộ sưu tập nhé!
Đồng bộ tài khoản