Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
3.043
lượt xem
24
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
Mô tả bộ sưu tập

Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo bộ sưu tập Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được thư viện eLib tuyển chọn dưới đây. Bộ sưu tập sẽ giúp các em biết lập dàn ý, biết chọn và phân tích các nghệ thuật trong Bình Ngô đại cáo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo đoạn trích Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được lấy từ bộ sưu tập cùng tên dưới đây:

Nguyễn Trãi là một nhân vật toàn tài, hiếm có của lịch sử Việt Nam trong thời phong kiến. Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, một nhà văn, nhà thơ tầm cỡ kiệt xuất. Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chịu những oan khiên thảm khốc do xã hội cũ gây nên trong lịch sử. Hơn sáu trăm năm đã trôi qua kể từ thời ông sống, những gì mà ông để lại cho lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc, ngày càng được khẳng định. Trong văn nghiệp Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo là đỉnh cao chói lọi. Tác phẩm là áng “thiên cổ hùng văn”, thể hiện thiên tài của Nguyễn Trãi, đỉnh cao về tư tưởng và nghệ thuật của nền văn hiến Đại Việt thế kỉ XV. Cùng với Lam Sơn thực lục, Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…, Bình Ngô đại cáo đã làm cho “ngôi sao Khuê” trở nên tỏa sáng và lấp lánh ngàn thu. Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm là nghệ thuật lập luận sắc sảo, trong đó tác giả có viện dẫn những điển cố từ lịch sử và văn học cổ - trung đại Trung Quốc.
Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc thù được sử dụng trong văn học cổ trung đại. Việc sử dụng điển cố thường góp phần nâng cao khả năng biểu hiện, tính hàm súc của ngôn ngữ, cũng như tính hình tượng văn học. Nhưng nếu điển cố văn học không xa lạ với những người có học thức thời xưa, thì ngược lại, nó lại khó hiểu với đa số bạn đọc ngày nay. Chính vì vậy, yêu cầu tìm hiểu, giải thích, hệ thống các dạng điển cố trong văn học nói chung và trong một tác phẩm đỉnh cao như Bình Ngô đại cáo nói riêng là rất quan trọng, đối với người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học.
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Trãi, trên tất cả các phương diện: quân sự, tư tưởng, ngoại giao, văn chương…; được tập hợp trong các cuốn sách: “Văn chương Nguyễn Trãi” của tác giả Bùi Văn Nguyên, hoặc “Nguyễn Trãi, tác phẩm và lời bình” do các tác giả Tuần Thành, Vũ Nguyễn tuyển chọn (2007), “600 năm Nguyễn Trãi” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn – 1980)… Đặc biệt là cuốn “Nguyễn Trãi - về tác gia và tác phẩm” (Nhà xuất bản Giáo dục – 2001) đã tập hợp những bài viết có giá trị về các tác phẩm của Nguyễn Trãi trên tất cả các thể loại.
Điển cố trong Bình Ngô đại cáo là vấn đề chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống. Một số công trình của: Trần Đình Sử (trong “Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam”), Bùi Duy Tân (“Nguyễn Trãi, nhà văn chính luận kiệt xuất”), Nguyễn Tăng Tiến (Nghệ thuật sử dụng điển cố trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi), đều đã thống kê các điển cố, cũng đi sâu phân tích, tìm hiểu ý nghĩa, cách sử dụng điển cố trong một số tác phẩm thơ văn Nguyễn Trãi, nhưng chưa chú ý đến điển cố trong Bình Ngô đại cáo.
Xuất phát từ thực tế nghiên cứu và vị trí quan trọng của tác phẩm Bình Ngô đại cáo, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu điển cố như là một phương tiện nghệ thuật được Nguyễn Trãi sử dụng thành công trong tác phẩm văn chính luận này.
Trong phạm vi của một báo cáo khoa học, chúng tôi tập trung khảo cứu văn bản “Bình Ngô đại cáo” in trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập II (Nxb Giáo dục, Hà Nội, Năm 2006) hiện hành.
Bằng việc phối hợp các phương pháp: thống kê, miêu tả, phân tích, tổng hợp, chúng tôi sẽ đi vào khảo cứu toàn bộ điển cố, chỉ ra mục đích sử dụng, phân tích và làm sáng rõ nghệ thuật vận dụng điển cố của Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô đại cáo.
1. Khái quát về điển cố văn học và tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
Về khái niệm “điển cố”, có nhiều cách cắt nghĩa, giải thích khác nhau. Để có được cái nhìn khách quan, tổng quát, ta đi vào tìm hiểu một số cách định nghĩa về điển cố.
1. Theo “Từ điển Hán - Việt” của Đào Duy Anh: Điển là phép tắc, cố có hai nghĩa: nghĩa 1 là việc, sự việc; nghĩa 2 là cũ, xưa. “Điển cố là những chuyện chép trong sách xưa”[1, 276].
2. Tác giả Đinh Gia Khánh trong “Từ điển Hán Việt” (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, năm 1992), nêu định nghĩa: “Điển cố là chuyện có ở điển cũ” [4, 313].
3. “Từ điển Tiếng Việt” do Nhà xuất bản Thanh Hóa in năm 1998 đóng góp định nghĩa: “Điển cố là phép tắc cổ điển”; còn “Điển tích là câu chuyện trong sách đời trước được dẫn lại một cách cô đúc trong tác phẩm”[8,436-437].
4. Nhà nghiên cứu Ngôn ngữ học Hoàng Phê trong “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng định nghĩa: “Điển cố là sự việc, hay câu chữ trong sách đời trước được dẫn lại một cách cô đúc” [10, 318].
5. Trong công trình “Thi pháp Truyện Kiều”, Trần Đình Sử đã nêu và dẫn ra: Điển cố là một trong những biện pháp tu từ cơ bản của văn chương cổ điển. Theo Vương Lực trong sách “Cổ đại Hán ngữ”, trong văn chương cổ có 8 phương thức tu từ thông dụng. Đó là 1. Kê cổ; 2. Dẫn kinh; 3. Đại xưng; 4. Đảo trí; 5. Ẩn dụ; 6. Vu hồi; 7. Ủy quyển; 8. Khoa sức. Trong đó “kê cổ” tức là kê cứu việc xưa, cụ thể là việc dẫn sự việc của người xưa để chứng thực cho ý kiến của mình. Đó tức là mầm mống của việc dùng điển cố [13, 289].
6. Định nghĩa của Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu”: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ, hay một câu có ám chỉ đến một việc cũ, một tích xưa, khiến cho người đọc sách phải nhớ đến chuyện ấy, sự tích ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lý thú của câu văn [3, 197].
7. Theo Lại Nguyên Ân trong “Từ điển văn học (từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX)” thì: Điển cố là một sự tích xưa của một vài câu thơ, câu văn cổ được người đời sau sử dụng trong hành văn để diễn tả ý mình cần nói.
Song đây không phải là lối trích dẫn nguyên văn mà là lối dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ đến sự tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này được gọi chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và phép lấy chữ.
Dụng điển (chữ Hán): dụng: vận dụng, điển: việc cũ hoặc xử sự, khiến việc, ý nói “sai khiến” các tích cũ, chuyện xưa cho thích dụng vào văn mạch của mình. Các điển gồm các tình tiết đã được chép trong sử sách, kinh truyện, kể cả các tình tiết hoang đường, hư cấu đã được viết ra trong những tác phẩm nổi tiếng thời trước.
Lấy chữ là mượn dùng lại một vài chữ trong các áng văn thơ cổ vào câu văn của mình, gợi cho người đọc phải nhớ đến câu thơ câu văn ở các tác phẩm của người xưa.
Từ những ý kiến đã nêu ở trên, chúng tôi mạnh dạn nêu ra cách hiểu về điển cố. Điển cố:
+ Là những chuyện về người và việc trong lịch sử (lấy từ trong kinh, sử, truyện của văn học cổ - trung đại Trung Quốc).
+ Là những câu văn, câu thơ, bài văn xưa, cổ được người ta vận dụng trong văn học cổ - trung đại Trung Quốc (còn gọi là điển tích).
Nhìn một cách tổng thể, điển cố trong văn học trung đại Việt Nam được hình thành từ thư tịch cổ Trung Hoa, theo tác giả Đoàn Ánh Loan các điển cố có nguồn gốc từ: Kinh, tử, sử, thơ, văn [6, 65]. Việc sử dụng điển cố không chỉ được sử dụng nhiều trong thơ ca Trung Quốc, mà còn trở thành một đặc trưng thi pháp trong văn học trung đại Việt Nam.
2. Thống kê và giải thích nguồn gốc điển cố được Nguyễn Trãi sử dụng trong Bình Ngô đại cáo.
Với phương pháp thống kê, phân tích, chúng tôi nhận thấy trong toàn bộ bài Cáo có các điển cố sau:
1. Điếu phạt
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
“Điếu phạt” là chữ được rút từ câu “Điếu dân phạt tội” trong Kinh Thư nói về việc vua Thang, vua Vũ vì dân mà đánh kẻ có tội là vua Kiệt, vua Trụ; thương xót nhân dân mà đánh kẻ có tội.
2. Con đỏ
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Nguyên văn chữ Hán là “Xích tử” ý nói con mới đẻ ra, mới lọt lòng nên da còn đỏ, cần nâng niu nuôi nấng cẩn thận. Điển cố này lấy ý từ một câu trong sách Thượng Thư: “Người làm vua phải bảo vệ nhân dân như bảo vệ con đỏ của mình”
3. Sạch không đầm núi
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
Nguyên văn là “mị hữu kiết di”nghĩa là không còn chút mảy may, sạch sành sanh. Là điển cố lấy từ câu trong Kinh Thư: “Chu chi lê dân, mị hữu kiết di” (tức: Nhân dân đời Chu bị cướp sạch không còn một mống).
Từ tội ác cụ thể: bóc lột nhân dân bằng thuế khóa nặng nề, Nguyễn Trãi đã sử dụng điển cố này để ngầm so sánh: cuộc sống của nhân dân ta dưới ách cai trị của giặc Minh chẳng khác gì nhân dân thời Chu; khi mà nhà cửa, của cải đều bị cướp sạch sành sanh, không còn thứ gì.
4. Trúc Nam Sơn, nước Đông hải
Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi
Nam Sơn là tên một ngọn núi ở Trung Quốc. Nam sơn: trỏ trái núi cao. Kinh Thi có câu “Tiết bỉ Nam sơn” tức: vòi vọi Nam Sơn kia. Từ đó Nam sơn được sử dụng trong văn chương để liên hệ so sánh với những gì lớn lao, không thể đo đếm được. Đông hải tức biển Đông ở Trung Quốc, chỉ sự rộng lớn vô cùng, có tính ước lệ.
Trúc Nam sơn, nước Đông hải là những điển cố mượn chữ và ý của các câu văn trong sách Thông giám và ở bài hịch của Lương Nguyên Đế - Ngỗi Hưu: “Khánh Nam sơn chi trúc, thư tội vô cùng, quyết Đông hải chi ba, lưu ác nan tận” nghĩa là: chặt hết trúc Nam sơn, chép không hết tội, vét hết sóng Đông hải rửa không hết mùi dơ bẩn. 

Hãy tham khảo toàn bộ tài liệu Phân tích nghệ thuật trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi trong bộ sưu tập nhé!
Đồng bộ tài khoản