Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều

Chia sẻ: An | Ngày: | 3 tài liệu

0
1.491
lượt xem
10
download
Xem 3 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều

Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều
Mô tả bộ sưu tập

Chúng tôi xin giới thiệu đến quý thầy cô giáo và các em học sinh bộ sưu tập Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều nhằm giúp cho việc dạy và học môn Ngữ Văn trở nên hiệu quả hơn. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều

Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều
Tóm tắt nội dung

Mời bạn tham khảo đoạn trích trong BST Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều của thư viện eLib dưới đây:

Từ xưa đến nay, hầu như tất cả các nhà nghiên cứu, bình luận Truyện Kiều đều khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi. Đào Nguyên Phổ đánh giá Truyện Kiều là “một khúc Nam âm tuyệt xướng”. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn so sánh đóng góp của Nguyễn Du về phương diện phát triển ngôn ngữ dân tộc với công của Puskin trong việc phát triển ngôn ngữ văn học Nga.

Thành công của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với lịch sử. Nó khẳng định một cách đầy thuyết phục sự phong phú và khả năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn học.

Ngôn ngữ Truyện Kiều phong phú, trong sáng, tinh luyện và giàu sức gợi cảm. Nhà thơ sử dụng nhiều lớp từ khác nhau là từ Hán Việt và từ thuần Việt. Ơ lớp từ nào thi nhân cũng có sự vận dụng sáng tạo. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến tài sử dụng tục ngữ, thành ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều.

Không phải đến Truyện Kiều, Nguyễn Du mới đưa vào sáng tác của mình những yếu tố văn học dân gian. Ngay từ những sáng tác đầu tay bằng tiếng dân tộc, khuynh hướng học tập tục ngữ, ca dao, dân ca; học tập ngôn ngữ của quần chúng của Nguyễn Du đã thể hiện khá rõ. Trong hai bài: Thác lời trai phường nón và Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, nhà thơ đã có dụng ý sử dụng ngôn ngữ quần chúng, cách nói của quần chúng. Cả hai bài thơ có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ và cách nói của quần chúng được thi nhân sử dụng như “cốc mò cò xơi”, “chó treo mèo đậy”, “quýt làm cam chịu”, “cú tha ma bắt”, “bóng chim tăm cá”, “chó cậy nhà, gà cậy chuồng”, “hàng thịt nguýt hàng cá”, “trâu buộc ghét trâu ăn”,… nhưng nhìn chung bản sắc nhà thơ vẫn chưa rõ. “Thác lời trai phường nón có tính chất một bài vè của quần chúng hơn là một bài thơ” (Nguyễn Lộc).

Truyện Kiều đánh dấu một bước phát triển mới về chất, có ý nghĩa đặc biệt trong việc học tập thơ ca dân gian và ngôn ngữ quần chúng của nhà thơ. Nguyễn Du vận dụng khẩu ngữ, ngoa ngữ, thành ngữ, tục ngữ; trong đó thành ngữ được vận dụng nhiều nhất. Thi nhân sử dụng cả thành ngữ thuần Việt lẫn thành ngữ Hán Việt.

Về thành ngữ Hán Việt, Nguyễn Du thường căn cứ vào đặc điểm về âm thanh và ngữ điệu của tiếng Việt để dịch những thành ngữ Hán ra thành ngữ Việt. Chẳng hạn như: “ Thiên nhai hải giác” thành “ Chân trời góc bể”; “ Hồng diệp xích thằng” thành “lá thắm chỉ hồng”. Cũng có không ít trường hợp Nguyễn Du giữ nguyên thành ngữ Hán Việt nhằm tạo màu sắc cổ kính, uy nghiêm như “Thanh thiên bạch nhật” trong câu “ Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi”(câu 2395-2396); “ Bình địa ba đào” trong câu “ Gặp cơn bình địa ba đào/ Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em”( câu 3065-3066).
Về thành ngữ thuần Việt: có nhiều loại thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng.

Thành ngữ ba âm tiết: “Nói như ru” trong câu “Lặng nghe lời nói như ru/ Chiều thu dễ khiến nét thu ngại ngùng”(câu 347-348); “bạc như vôi” trong câu “Phận sao phận bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng”(câu 753-754); “Ma đưa lối”, “quỉ đưa đường” trong câu “Ma đưa lối quỷ đưa đường/ Lại tìm những chốn đoạn đường mà đi”(câu 2665-2666)…
Thành ngữ 4 âm tiết: “Nửa ở nửa về” trong câu “ Dùng dằng nửa ở nửa về/ Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần” (câu 133-134); “ Đội trời đạp đất” trong câu “Đội trời đạp đất ở đời/ Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông” (câu 2171- 2172)…

Thành ngữ gồm 6 âm tiết: “Thân lươn bao quản lâm đầu” trong câu “Thân lươn bao quản lâm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”(câu 1147-1148); “Tình sâu mong trả nghĩa dày” trong câu “Tình sâu mong trả nghĩa dày/ Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa?” (câu 1263-1264)…
Thành ngữ 8 âm tiết: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều” trong câu “Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”( câu 2361-2362)…

Kết cấu của thành ngữ, tục ngữ chặt chẽ, điều đó qui định cách sử dụng nó khi đưa vào tác phẩm thường là liền một khối. Trong Truyện Kiều, không ít trường hợp, Nguyễn Du giữ nguyên thành ngữ mà câu thơ vẫn uyển chuyển: 

Hy vọng rằng BST Phân tích thành ngữ trong tác phẩm Truyện Kiều sẽ giúp quý thầy cô có thêm tư liệu tham khảo, giúp các em học sinh học tập tốt hơn.
Đồng bộ tài khoản