Quan niệm về văn chương của Tản Đà

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
112
lượt xem
1
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Quan niệm về văn chương của Tản Đà

Quan niệm về văn chương của Tản Đà
Mô tả bộ sưu tập

Chúng tôi xin giới thiệu đến quý thầy cô giáo và các em học sinh bộ sưu tập TQuan niệm về văn chương của Tản Đà nhằm hỗ trợ cho việc dạy và học môn Ngữ Văn trở nên hiệu quả hơn. Bộ sưu tập này gồm các tài liệu hay, chất lượng hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em học sinh và quý thầy cô giáo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Quan niệm về văn chương của Tản Đà

Quan niệm về văn chương của Tản Đà
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô giáo tham khảo phần trích dẫn nội dung trong bộ sưu tập Quan niệm về văn chương của Tản Đà dưới đây:

Thật khó có thể tìm một nhân vật trí thức có tài năng cũng như vị trí vô cùng đặc biệt như Tản Đà. Nhìn vào trường hợp thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, chúng ta ngẫm nghĩ được khá nhiều vấn đề mang tính lý luận của văn chương Việt ở buổi giao thời chuyển từ bút lông sang bút sắt.
Còn nhớ một câu mà lâu nay người ta đều bảo đó là câu nói của Phan Bội Châu: “Lập thân tối hạ thị văn chương”, có nghĩa lập thân hèn hạ nhất là bằng văn chương, nếu đó là thứ văn chương cử tử, văn chương tầm chương trích cú, chỉ lo ve vãn, tô đẽo những điều phù phiếm, hão huyền, không chú tâm tới hiện thực đời sống đang diễn ra với bao lo toan về sự bình yên, thịnh trị và phồn vinh của trăm họ. Thực sự, câu nói đó của một sĩ phu Trung Hoa, vì cụ Phan tâm đắc với nó mà nhắc đi nhắc lại thôi.
Sau này, Tản Đà chỉ sửa một chữ trong câu đó để phù hợp hơn với quan niệm văn chương của nhà thơ “quê hương thời có cửa nhà thời không”. Tản Đà phát biểu: “Lập thân tối thiểu thị văn chương”, có nghĩa lập thân kém nhất cũng phải bằng văn chương, nếu văn chương đó là thứ văn chương vì cuộc sống đương thời.

Mở mang dân trí
Tản Đà sinh ra trong thời đại hoàn toàn khác. Khi cựu học ngày càng suy thoái, chữ quốc ngữ được cổ súy, phổ biến trong các trường học và mọi công việc hành chính sự vụ, khi báo chí phát triển như trăm hoa đua nở, Tản Đà là người cực kỳ nhạy bén với thời cuộc, lẽ nào vẫn cố sống cố chết với những lý luận và quan niệm văn chương theo kiểu “chi, hồ, giả, dã” cho được? Và Tản Đà đi theo quan niệm của những trí thức hàng đầu của Việt Nam giai đoạn giao thời như: Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng v.v… Ông coi việc làm văn chương như cách để mở mang dân trí, chấn hưng đất nước và sâu xa hơn, cổ súy cho việc tự lực tự cường trên phương diện văn hóa để chờ cơ hội giành lại độc lập từ tay người Pháp. Tản Đà cũng như những trí thức buổi giao thời hiểu sâu sắc một lẽ rằng, muốn đánh đuổi Pháp, trước hết phải học Pháp, mà cái cần học trước tiên chính là chữ quốc ngữ. Do đó, không ngạc nhiên khi một ông đồ nho được đào tạo khá bài bản trong nền cựu học như Tản Đà thoắt đã có thể nhập cuộc với những tri thức mới mẻ của nền văn hóa phương Tây và chữ quốc ngữ.

Trở lại với quan niệm văn chương của Tản Đà. Chính vì những ý nghĩ thức thời như trên mà khi làm báo, viết văn, Tản Đà thể hiện rõ những ám ảnh thôi thúc của tinh thần tự nhiệm một nhà nho trước buổi gió Á mưa Âu.
Đọc văn chương Tản Đà, người ta thấy rất rõ hai cái mâu thuẫn. Một mặt, ông coi văn chương là một thú chơi, không làm ra vẻ nghiêm trọng hay phức tạp. Văn chương với ông trước hết là một cuộc chơi tùy hứng, thư thái. Vì lẽ ấy, trong những phần giới thiệu, cảm bình văn chương, Tản Đà gần như bỏ qua, không chạm tới những phương diện phản ánh xã hội của tác phẩm. Ông thích và nói nhiều về vẻ đẹp ngôn từ, vẻ đẹp đích thực và cơ bản nhất của văn chương. Tuy nhiên, vì Tản Đà là nhà báo, nên dù muốn dù không, ông cũng không thể làm ngơ trước những sự kiện đang diễn ra quanh mình. Trong nhiều tác phẩm văn chương cũng như báo chí của Tản Đà, người ta nhận ra khối mâu thuẫn đó đôi khi khiến ông lúng túng…

Vì sự thay đổi quan niệm đó nên Tản Đà lao vào rất nhiều công việc khó nhọc, gian khổ và đầy thách thức. Ông từng nuôi tham vọng viết một cuốn sách ngữ pháp về chữ Hán văn ngôn để dạy các thế hệ người Việt sau này không quên thứ văn tự của cha ông. Nhưng Tản Đà lại áp dụng phương pháp phân tích ngữ pháp của tiếng Pháp để phân tích chữ Hán văn ngôn và cấu trúc ngữ pháp của nó. Tản Đà quên mất rằng, tiếng Pháp là thứ tiếng đa âm, ghi âm tiếng nói, còn chữ Hán văn ngôn là thứ chữ của ngôn ngữ đơn âm, không ghi âm mà biểu ý theo nguyên tắc của chữ tượng hình. Sự khác biệt tới mức gần như một trời một vực khiến con đường của Tản Đà trong nỗ lực công thức hóa chữ Hán văn ngôn trở thành điều bất lực. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải ghi nhận cố gắng rất lớn và tâm huyết tuyệt vời của vị trí thức này đối với nền văn hiến dân tộc.

Nhưng tại sao đến thời Tản Đà mới xảy ra chuyện thay đổi quan niệm văn chương tới mức “180 độ” như vậy? Bên cạnh những biến đổi mang tính vi tế, trừu tượng, không dễ phân tách, còn có một sự thực, các trí thức đương thời cũng như chính Tản Đà đều đã trải qua những “cú sốc” văn hóa vô cùng lớn khi lần đầu tiên họ được chứng kiến những thành tựu văn minh phương Tây vô cùng hấp dẫn tại đất nước ta giai đoạn đầu thế kỷ.

Nhà nghiên cứu Phan Quý Bích, trong một công trình nghiên cứu về văn chương từ bút lông sang bút sắt đã từng viết, đại ý rằng, khi ngắm nhìn những công trình lớn như nhà hát lớn, phủ toàn quyền và cầu Long Biên, đặc biệt là cầu Long Biên, cây cầu đầu tiên được bắc qua sông Hồng, nối liền giữa hai vùng dân cư vốn lâu nay cách trở biền biệt giữa bên tả, hữu ngạn, nhiều nho sĩ của buổi cựu học đã về nhà bẻ bút lông để bắt tay vào học cầm bút sắt. Dù yêu nước đến nồng nàn, cháy bỏng, nhưng những trí thức thuở ấy đều hiểu rằng, chúng ta sẽ không thể giành lại được độc lập nếu chỉ có ý chí đơn thuần và những mộng mơ tràn đầy khát vọng hạnh phúc. Cần phải học tập thành tựu văn minh của thế giới, của người Pháp, để có đủ năng lực và sức mạnh quân sự chống lại quân xâm lược này. 

Vui lòng xem tiếp tài liệu trong bộ sưu tập Quan niệm về văn chương của Tản Đà. Ngoài ra, quý thầy cô giáo và các em học sinh còn có thể download về làm tài liệu tham khảo bằng cách đăng nhập vào Website eLib.vn.

Đồng bộ tài khoản