Sáng kiến kinh nghiệm tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội

Chia sẻ: Xuan | Ngày: | 1 tài liệu

0
267
lượt xem
24
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Bài giảng Giáo án THPT để cùng chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy
Sáng kiến kinh nghiệm tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội

Mô tả BST Sáng kiến kinh nghiệm tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội

Thư viện Elib tuyển chọn các sáng kiến kinh nghiệm có giá trị ứng dụng nhằm mang đến cho quý thầy cô giáo, những người làm công tác giáo dục những sáng kiến kinh nghiệm mẫu, những sáng kiến kinh nghiệm có giá trị cho công việc của mình. Các tài liệu trong bộ sưu tập Sáng kiến kinh nghiệm tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội được chọn lọc từ các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm và sáng tạo. Mời quý vị tham khảo nhằm nâng cao chất lượng quản lý cũng như giảng dạy trong nhà trường.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Sáng kiến kinh nghiệm tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội

Mời quý thầy cô giáo tham khảo nội dung của các tài liệu trong bộ sưu tập Sáng kiến kinh nghiệm tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội. Và vui lòng xem thêm các tài liệu cùng chủ đề trong các bộ sưu tập khác. Ngoài ra, quý thầy cô giáo còn có thể download về làm tài liệu tham khảo bằng cách đăng nhập vào Website eLib.vn của chúng tôi.

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM



ĐỀ TÀI:
“TẠO CHẤT VĂN CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI”
A. Đặt vấn đề:

LÝ do chän ®Ò tμi:
1.1. Thùc tr¹ng viÖc häc sinh viÕt kiÓu bµi nghÞ luËn vÒ mét vÊn ®Ò x· héi
thiÕu “ chÊt v¨n”.
- NghÞ luËn vÒ mét vÊn ®Ò x· héi ®· tõng ®−îc ®Ò cËp ®Õn trong ch−¬ng tr×nh c¶i
c¸ch gi¸o dôc song ch−a ®−îc chó träng, thêi l−îng dµnh cho phÇn häc nµy chØ
cã 2 tiÕt, gi¸o viªn trùc tiÕp gi¶ng d¹y còng ch−a chó ý h−íng dÉn häc sinh kü
n¨ng lµm kiÓu bµi nµy. Nay ch−¬ng tr×nh cña Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o cã ®Æc biÖt
chó träng rÌn luyÖn cho häc sinh kü n¨ng nghÞ luËn vÒ mét vÊn ®Ò x· héi trong
suèt c¶ ch−¬ng tr×nh: THCS, THPT. §Æc biÖt ®−a néi dung nµy vµo c¸c k× thi
chän häc sinh giái cÊp Quèc gia, tuyÓn sinh vµo c¸c tr−êng ®¹i häc, cao ®¼ng vµ
tèt nghiÖp THPT. V× vËy tiÕp cËn víi vÊn ®Ò nµy gi¸o viªn cßn cã nhiÒu lóng
tóng, v−íng m¾c.
- Thùc tÕ hiÖn nay häc sinh viÕt nghÞ luËn x· héi kh« khan, thiÕu chÊt v¨n. Bµi
viÕt kh«ng sinh ®éng, ý cßn nghÌo nµn, lËp luËn thiÕu lo gic chÆt chÏ. Bµi viÕt
kh«ng thùc sù cã hiÖu qu¶, thuyÕt phôc ®−îc ng−êi ®äc.
1.2. ý nghÜa thùc tiÔn: Gi¸o viªn h−íng dÉn häc sinh viÕt v¨n nghÞ luËn x· héi
cã chÊt v¨n.
2. Môc ®Ých nghiªn cøu: Trong bộ môn Ngữ văn, ngoài việc hướng dẫn học
sinh tiếp nhận kiến thức, người giáo viên văn còn có trách nhiệm giúp học sinh biết
cách tạo lập văn bản qua những tiết làm văn. Trong các loại văn bản mà học sinh
cần biết tạo lập thì văn bản nghị luận (gồm cả nghị luận văn học và nghị luận xã
hội) là loại văn bản rất quan trọng vì nó giúp học sinh rèn luyện và phát triển tư
duy lô-gíc, thể hiện trình độ kiến thức và các kĩ năng làm văn. Đồng thời, đây cũng
là loại văn bản mà người ra đề trong các kì thi quan trọng yêu cầu học sinh thực
hiện.
Đối với cả học sinh và giáo viên văn, nếu nghị luận văn học là kiểu bài đã
quen thuộc nên việc xử lý khá dễ dàng thì nghị luận xã hội tuy không phải kiểu bài
mới song do trước đây ít được sử dụng nên ít nhiều có khó khăn khi triển khai.
Viết được một bài nghị luận xã hội đạt yêu cầu đã khó, viết một bài văn nghị luận
xã hội hay lại càng không phải vấn đề đơn giản. Người viết chuyên đề này đã từng
thiết kế hướng dẫn làm bài văn nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông, ở đây
chỉ xin bàn thêm về một khía cạnh rất quan trọng trong làm văn nghị luận xã hội để
bài viết của học sinh đạt chất lượng cao: đó là cách tạo chất văn cho bài văn nghị
luận xã hội.
3. Giíi h¹n cña ®Ò tμi:
H−íng dÉn häc sinh viÕt v¨n nghÞ luËn x· héi cã chÊt v¨n.
4. LÞch sö vÊn ®Ò:
HiÖn nay ch−a cã gi¸o viªn ®Ò cËp ®Õn. V× vËy, t«i m¹nh d¹n ®−a ra
vÊn ®Ò trªn ®Ó cïng ®ång nghiÖp trao ®æi.
B. Triển khai vấn đề:
I. Giới thuyết chung:
1. Chất văn:
Hiểu một cách đơn giản, "chất văn" là tính chất tạo nên vẻ đẹp văn chương
của một văn bản - nó bao gồm các yếu tố cảm xúc, hình ảnh và chiều sâu suy nghĩ
bộc lộ qua cách diễn đạt, trình bày của người viết. Các yếu tố này không tồn tại
độc lập mà luôn song hành, hoà quyện vào nhau khi người tạo lập văn bản lựa
chọn từ ngữ và các phương thức diễn đạt.
Một bài viết được cho là có "chất văn" khi lời văn được viết từ nhiệt tình sôi
nổi và niềm tin vững chắc của người viết vào điều mình định trình bày, khi ngôn
ngữ được sử dụng chuyển tải một cách tinh tế và sâu sắc những cảm xúc, tình cảm
và suy nghĩ trong lòng, khi ý tưởng được thể hiện sinh động bằng thứ ngôn ngữ
giàu hình ảnh và giàu cảm xúc. Nhưng như thế cũng có nghĩa không phải cứ có
cảm xúc hoặc có hình ảnh là có "chất văn". Cảm xúc ấy, hình ảnh ấy phải nảy nở
sinh sôi trên sự hình thành, tồn tại của chính ý tưởng - mà ý tưởng của người viết
phải là ý tưởng được định hình thật rõ ràng bằng các luận điểm xác đáng, có cơ sở
khoa học cũng như thực tiễn.
2. Bài văn nghị luận xã hội:
Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề xã
hội (mối quan hệ con người trong xã hội, những đòii hỏi của cuộc sống cũng như
yêu cầu của con người, thực trạng xã hội và các hiện tượng đời sống...) Mục đích
cuối cùng của nó là là thể hiện chính kiến, quan niệm của người viết về vấn đề đặt
ra đồng thời tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ
giữa người với người trong xã hội.
Yêu cầu đối với bài văn nghị luận xã hội trước hết cũng là đảm bảo kĩ năng
nghị luận nói chung (tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn, có ý
thức triển khai thành những luận điểm chặt chẽ, nhất quán, tìm được những dẫn
chứng xác đáng, giàu sức thuyết phục). Bên cạnh đó, bài văn nghị luận xã hội cũng
cần đảm bảo về kiến thức mang màu sắc chính trị-xã hội ( những hiểu biết về chính
trị - pháp luật, những kiến thức nền tảng về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức,
tâm lý-xã hội…, những tin tức thời sự cập nhật…); đảm bảo mục đích, tư tưởng:
phải vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, ngay cả khi
những yêu cầu này đã đạt được rồi thì bài văn cũng chưa thể tạo được sức lôi cuốn,
hấp dẫn để có thể vừa thuyết phục về trí tuệ vừa lay động tâm hồn tình cảm của
người đọc, người nghe. Một bài văn dù bàn luận về đối tượng gì, bằng phương
pháp nghị luận nào cũng cần có chất văn như một thứ hương sắc đặc trưng tạo sức
hấp dẫn cho dư vị của tư tưởng, tình cảm, nhận thức được thể hiện trong đó.
3. Chất văn trong bài văn nghị luận xã hội:
Trước hết, một bài văn nghị luận xã hội được xem là có chất văn khi bên
cạnh hệ thống ý mạch lạc, sắc sảo, người viết còn thể hiện lòng nhiệt tình trong
cách thể hiện chính kiến, quan niệm của cá nhân mình về vấn đề đưa ra bàn luận.
Lòng nhiệt tình ấy trước hết được bộc lộ ở thái độ nghiêm túc xem xét vấn đề một
cách thấu đáo để có thể đi đến cùng trong cắt nghĩa, lí giải và đánh giá. Đồng thời,
khi có lòng nhiệt tình, người viết bao giờ cũng thể hiện một thái độ, lập trường rõ
ràng đối với vấn đề (đồng tình hay phản đối, khen hay chê, tin tưởng hay còn nghi
ngờ...).Bên cạnh đó, yếu tố cảm xúc là không thể thiếu: niềm vui, sự tin tưởng với
điều tốt, nỗi băn khoăn, trăn trở với những vấn đề bức xúc trong xã hội và đời sống
con người, nỗi đau buồn và khát vọng đổi thay trước những mất mát, băng hoại...
Tuy nhiên, dù có lòng nhiệt tình song nếu thiếu đi sự tinh tế trong cách biểu
hiện thì không những không đạt hiệu quả mà còn gây phản cảm, phản tác dụng
(cũng như trong cuộc sống, bị khinh ghét khiến người ta mặc cảm, buồn bã cô đơn,
song đôi khi tình yêu không được thể hiện đúng cách, đúng đối tượng cũng gây
mệt mỏi, khó chịu không kém). Ngôn ngữ chính xác, truyền cảm, cách diễn đạt
giàu hình ảnh, sử dụng hợp lý và sáng tạo những cách liên tưởng, so sánh...là điều
cần thiết để góp phần tạo chất văn cho bài văn nghị luận xã hội - nhất là những bài
văn nghị luận về tư tưởng - đạo lý có ý nghĩa thiết thực và gần gũi trong đời sống
của con người (tình bạn, tình cảm gia đình, thái độ đạo đức đối với con người...).
II. Cách tạo chất văn trong bài văn nghị luận xã hội:
1. Hình thành ý tưởng và xác định thái độ:
1.1. Hình thành ý tưởng:
Do trong nhà trường phổ thông, các bài viết đều triển khai từ yêu cầu của đề
bài trong sách giáo khoa hoặc do giáo viên ra nên ý tưởng lớn bao trùm toàn bộ bài
viết phải là điều mà đề bài yêu cầu bàn luận. Nói cách khác, ý tưởng cần được hình
thành trên chính yêu cầu của đề bài.Vì vậy, để hình thành ý tưởng, việc đầu tiên là
đọc kĩ và xác định yêu cầu đề. Hãy đọc một số đề bài sau đây:
Đề số 1. Suy nghĩ của anh (chị) về thành công và thất bại?
Đề số 2. Nghệ sỹ Đặng Thái Sơn từng có lần tâm sự: "Lúa càng nặng hạt thì
càng trĩu bông, giản dị cúi đầu"(Theo ViệtNamNet).
Anh (chị) có suy nghĩ gì trước lời tâm sự trên?
Đề số 3.Trong cuốn Chia sẻ tâm hồn và quà tặng cuộc sống của hai tác giả
Jack Canfield và Mark Victor Hasen (NXB tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh,
2005) có mẩu chuyện sau:
Tại một thị trấn nhỏ ở Tây Ban Nha, có một người đàn ông tên Jorge vừa cãi
vã dữ dội với cậu con trai Paco của mình. Ngày hôm sau ông phát hiện giường của
Paco trống không - cậu bé đã bỏ nhà đi. Vượt qua cảm giác ăn năn, hối hận về
những điều đã xảy đến, Jorge nhìn lại mình và nhận ra rằng, với ông, cậu con trai
quan trọng hơn tất cả. Với mong muốn bắt đầu lại, Jorge đến một cửa hiệu nổi
tiếng ở trung tâm thị trấn và dán một tấm giấy có dòng chữ: "Paco, con hãy trở về
nhà. Bố yêu con. Hãy gặp bố ở đây vào sáng mai con nhé!". Sáng hôm sau, khi
Jorge đến cửa hiệu, thì không chỉ có một, mà đến bảy cậu bé cùng có tên Paco bỏ
nhà ra đi đã đứng đợi ở đấy...
Đọc mẩu chuyện trên, anh (chị) có suy nghĩ gì?
Đề số 4. Nhà bác học Ác-si-mét từng nói: "Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ
nâng bổng cả trái đất lên".
Nếu được chọn ba điểm tựa cho cuộc đời mình, anh (chị) sẽ chọn những
điểm tựa nào?
Đề số 5. Trong bộ sách "Hạt giống tâm hồn" của NXB tổng hợp TP Hồ Chí
Minh năm 2008 có mẩu chuyện sau:
Hai người bạn cùng đi qua sa mạc. Trong chuyến đi, giữa hai người có xảy
ra một cuộc tranh luận và một người nổi nóng không kiềm chế được mình đã nặng
lời miệt thị người kia. Cảm thấy bị xúc phạm, anh không nói gì, chỉ viết lên cát:
"Hôm nay, người bạn tốt nhất của tôi đã làm khác đi những gì tôi nghĩ". Họ đi
tiếp, tìm thấy một ốc đảo và quyết định đi bơi. Người bị miệt thị lúc nãy bây giờ
đuối sức và chìm dần xuống. Người bạn kia tìm cách cứu anh. Thoát khỏi vũng lầy,
anh lấy một miếng kim loại khắc lên đá: "Hôm nay, người bạn tốt nhất của tôi đã
cứu sống tôi". Người bạn kia hỏi: "Tại sao khi tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát,
còn bây giờ anh lại khắc lên đá?"...
Anh (chị) hãy lý giải điều mà người bạn kia thắc mắc.
Đề số 6. Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề đặt ra trong câu nói sau: "Chỉ có
tinh thần độc lập và tự trọng mới có thể nâng chúng ta lên trên những nhỏ nhen của
cuộc sống và những bão táp của số phận" (A.Puskin)
Đề số 7.Bàn về phương thức giáo dục con người, Kakura khẳng định: "Con
người không phải là cái bình nước cần được đổ đầy mà là một ngọn đèn cần được
thắp sáng". Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm trên.
Đề số 8. "Cuộc sống riêng không biết đến gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà
mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó
giống như một vườn cây được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn
gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất
là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn
giông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí
hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh
phúc mỏng manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp
làm cho nổi sóng, nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận của
những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm
muốn".
(Theo A.L.Ghec-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà
Nội, 1997)
Đoạn trích trên gợi cho anh (chị) điều gì?
Đề số 9. "Ta hỏi một con chim: Ngươi cần gì? Chim trả lời: Ta cần bay. Một
con chim được ăn kê béo trong lồng sẽ trở thành con gà bé bỏng tội nghiệp và vô
dụng. Ta hỏi một dòng sông: Ngươi cần gì? Sông trả lời: Ta cần chảy. Một dòng
sông không chảy sẽ trở thành vũng nước khô cạn dần rồi biến mất. Ta hỏi một con
tàu: Ngươi cần gì? Con tàu trả lời: Ta cần được ra khơi. Một con tàu không ra
khơi chỉ là vật biết nổi trên mặt nước và sẽ chìm dần theo thời gian. Ta hỏi một
con người: Ngươi cần gì? Con người này trả lời: Ta cần được lao động trong sáng
tạo"
(Những câu hỏi không lãng mạn- NguyÔn Quang ThiÒu - Viet Nam Net -
Thø 5, ngµy 7 th¸ng 1 n¨m 2010).
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề được đặt ra trong đoạn văn trên.
Đọc kĩ đề, chú ý vào những cụm từ, hình ảnh và cách diễn đạt, học sinh sẽ
nhận ra yêu cầu mà người ra đề đặt ra:
Đề số 1: Đề bài yêu cầu học sinh bàn luận về thành công và thất bại. Đây là
dạng đề giao thoa giữa hai dạng nghị luận về một tư tưởng - đạo lý và nghị luận về
một hiện tượng đời sống. Vì vậy, học sinh cần linh hoạt kết hợp cách lập và triển
khai ý của cả hai dạng đề này. Cần làm rõ khái niệm thành công, thất bại; cơ sở
dẫn tới thành công, thất bại; cách ứng xử thường thấy trước thành công, thất bại
của người trong và ngoài cuộc; đề xuất cách ứng xử nên có với thành công và thất
bại của bản thân cũng như của người khác.
Đề số 2: Đề bài yêu cầu trình bày suy nghĩ về một lời tâm sự của nghệ sĩ
Đặng Thái Sơn - một người đã gặt hái nhiều thành công trên con đường âm nhạc.
Trong câu nói này, người đọc vừa thấy một tâm sự, nhắn nhủ của người nghệ sĩ lại
vừa thấy một vấn đề tư tưởng - đạo lí được đặt ra: ứng xử và nhân cách của những
người thực sự thành công với những đóng góp cho cuộc sống. Từ vấn đề được đặt
ra, mỗi người sẽ rút ra được bài học cho mình trong cuộc sống cũng như trong ứng
xử.
Với đề bài này, học sinh nên xử lí theo bốn bước: cắt nghĩa - lý giải - đánh
giá - liên hệ, mở rộng để vừa thể hiện được nhận thức về vấn đề vừa thể hiện
những cảm nhận về nó trong chính thực tế cuộc sống của bản thân.
Đề số 3: Đề bài yêu cầu học sinh bày tỏ suy nghĩ về vấn đề được đặt ra từ
mẩu chuyện được trích dẫn. Để thực hiện được yêu cầu đề, học sinh trước hết cần
xác định chính xác vấn đề đặt ra bằng việc đọc kĩ văn bản được dẫn, tìm những
thông tin quan trọng trong đó. Có ba thông tin đặc biệt quan trọng, không thể bỏ
qua để nhận diện vấn đề: suy nghĩ của người cha "với ông, cậu con trai quan trọng
hơn tất cả", lời người cha nhắn nhủ tới cậu con trai "Paco, con hãy trở về nhà. Bố
yêu con. Hãy gặp bố ở đây vào sáng mai con nhé" và hiệu quả của lời nhắn đó -
không chỉ có một mà tới bảy cậu bé có tên Paco bỏ nhà ra đi đã dứng đợi ở đấy. Từ
việc xác định chính xác vấn đề đặt ra, cần có sự lý giải thích hợp và liên hệ mở
rộng để bài viết trở nên thuyết phục.
Đề số 4: Đề bài thuộc dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Vấn đề cần
nghị luận đã được bộc lộ khá rõ trong đề bài: điểm tựa trong cuộc đời mỗi người.
Để thực hiện yêu cầu của đề bài, học sinh cần giải nghĩa khái niệm "điểm tựa" và
xác định điểm tựa cần thiết cho bản thân mình. Sự xác định này rất tự do, điều
quan trọng là phải lí giải một cách hợp lí, thuyết phục về sự lựa chọn những điểm
tựa đó.
Đề số 5: Đề bài yêu cầu lý giải điều mà người bạn trong mẩu chuyện thắc
mắc: "Tại sao khi tôi xúc phạm anh, anh viết lên cát, còn bây giờ (tức là khi tôi cứu
anh) anh lại viết lên đá?". Để thực hiện được yêu cầu này, học sinh cần chú ý sự
khác biệt về tính chất và khả năng của hai loại chất liệu đá và cát. Song điều quan
trọng là chú ý tới sự khác biệt giữa nguyên nhân và ý nghĩa của hai hành động xúc
phạm và cứu giúp đối với cả hai người - người hành động và người là đối tượng
của hành động đó. Từ sự lý giải một cách thấu đáo về điều này, học sinh cần rút ra
bài học về cách sống, cách ứng xử cho chính mình.
Đề số 6: Đề bài yêu cầu trình bày suy nghĩ về vấn đề đặt ra trong quan niệm
của A.Puskin. Để làm được đề bài này, học sinh trước hết cần xác định chính xác
vấn đề ở đây là gì, gồm các khía cạnh nào. Thao tác này thực hiện khá dễ vì những
gì cần tìm đã được bộc lộ khá rõ trong câu nói: tinh thần độc lập - vượt lên bão táp
của số phận, lòng tự trọng - vượt lên những nhỏ nhen của cuộc sống. Vấn đề còn
lại là học sinh cần biết lí giải vì sao lại như thế và đề xuất ý kiến cá nhân của mình.
Đề số 7: Đề bài yêu cầu học sinh bàn luận quan điểm về phương thức giáo
dục con người - một vấn đề tư tưởng khá thú vị và thiết thực đối với xã hội ta hiện
nay. Để thực hiện yêu cầu đề, học sinh cần chú ý cắt nghĩa các hình ảnh "bình
nước" và "ngọn đèn", các cụm từ "cần được đổ đầy" và "cần được thắp sáng" (nhất
là từ "đổ đầy" và "thắp sáng") vì đó là những từ thể hiện nội dung quan điểm của
Kakura. Từ đó, học sinh cần vận dụng nhận thức, hiểu biết về yêu cầu đối với con
người để lý giải vì sao con người không thể là bình nước mà phải như ngọn đèn để
khái quát ý nghĩa quan điểm giáo dục đó đối với người làm công tác giáo dục và
rút ra bài học cho bản thân (với tư cách là đối tượng nhận sự giáo dục) trong quá
trình học tập, tu dưỡng.
Đề số 8: Đề bài yêu cầu trình bày suy nghĩ về vấn đề cách sống được đặt ra
trong đoạn trích: phủ nhận lối sống ích kỉ, "không biết đến gì hết ở bên kia ngưỡng
cửa nhà mình" và khẳng định lối sống hoà nhập, gắn bó với cộng đồng, với môi
trường xã hội xung quanh mình. Để thực hiện yêu cầu đề, học sinh cần bắt đầu từ
việc cắt nghĩa những hình ảnh, những cách diễn đạt đặc biệt trong đoạn trích để
xác định chính xác vấn đề cùng các khía cạnh của nó. Từ đó, học sinh cần lý giải
được vì sao con người không nên sống ích kỉ, vì sao cần hoà nhập với cộng đồng,
cuộc sống vượt ra ngoài phạm vi cá nhân có ý nghĩa như thế nào...Khi lý giải thấu
đáo những vấn đề này, học sinh sẽ có đủ cơ sở để đánh giá và đề xuất ý kiến riêng.
Đề số 9: Đề bài yêu cầu bàn về vấn đề được đặt ra trong đoạn văn của tác giả
Nguyễn Quang Thiều: vai trò của lao động trong sáng tạo. Để thực hiện yêu cầu
đề, học sinh cần chú ý tới tương quan giữa hai hệ thống hình ảnh: con chim và con
gà bé bỏng, tội nghiệp và vô dụng, dòng sông và vũng nước khô cạn dần và biến
mất, con tàu và vật biết nổi trên mặt nước và sẽ chìm dần theo thời gian. Giữa hai
hệ thống ấy có những từ chỉ hoạt động lao động như bay, chảy, ra khơi - những
hoạt động để con chim, dòng sông, con tàu được là chính nó và trở nên có giá trị.
Từ đó, học sinh sẽ xác định được ẩn ý của tác giả trong đoạn văn như một cơ sở
hình thành ý tưởng cho bài viết.
1. 2. Xác định thái độ:
Để có thể bộc lộ một thái độ đúng đối với vấn đề đặt ra, ngoài việc nhận diện
chính xác và sâu sắc bản chất vấn đề, cần có những hiểu biết nhất định về chuẩn
mực đạo đức và các chuẩn đánh giá chung của xã hội. Trên cơ sở hiểu biết chung
ấy, người viết cần xem xét vấn đề để có những đánh giá chính xác về tính chất của
nó: tích cực hay tiêu cực, đúng hay sai, phiến diện hay toàn diện...Sự đánh giá này
rất quan trọng vì nó là cơ sở để người viết bộc lộ thái độ của mình: khen hay chê,
đồng tình hay phản đối, khâm phục nể trọng hay bất bình phẫn nộ...Chẳng hạn, với
vấn đề thành công và thất bại ở đề số 1, thái độ cần có là thái độ khách quan để
xem xét các mặt, các biểu hiện của vấn đề và tha thiết mong muốn mọi người nên
có thái độ đúng với thành công và thất bại của mình cũng như của người khác. Với
vấn đề cách ứng xử ở đề bài số 2, thái độ cần có là trân trọng cách nhìn, cách nghĩ
của một người nghệ sĩ nổi tiếng đã đạt nhiều thành công trên con đường âm nhạc
và nghiêm túc phân tích lợi ích của sự khiêm nhường, giản dị trong cách sống,
cách ứng xử để từ đó bộc lộ niềm mong mỏi sự đổi thay cách sống ở một bộ phận
người không nhỏ trong xã hội hiện tại...
Khi bộc lộ thái độ, cần rõ ràng, minh bạch song không nên cực đoan vì sẽ
gây phản cảm và làm giảm tính nghiêm túc của bài viết. Hãy đọc bài văn sau của
một em học sinh lớp 12:
Đề bài
Dân gian ta có câu "Ở hiền gặp lành" nhưng trong tác phẩm "Ở hiền", nhà
văn Nam Cao lại để cho nhân vật Nhu suy nghĩ“Tại sao ở đời lại có nhiều sự bất
công đến thế? Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ
hay nhịn hay nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhường mình? Còn
những kẻ thành công thì hầu hết lại là những người rất tham lam, chẳng biết nhịn
nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?”.
Anh (chị) có ý kiến gì về vấn đề đặt ra trong những câu nói trên? Hãy viết
bài văn bày tỏ ý kiến của mình.
Bài làm
Dân gian ta có câu: “Ở hiền gặp lành” nhưng trong tác phẩm “Ở hiền”,
nhà văn Nam Cao – một nhà văn xuất sắc của văn học hiện thực phê phán đã để
nhân vật Nhu của mình suy nghĩ: “Tại sao ở đời lại có nhiều sự bất công đến thế?
Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn hay
nhường thì thường thường lại chẳng được ai nhường mình? Còn những kẻ thành
công thì hầu hết lại là những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều
khi lại xảo trá, lọc lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?”. Đây mới thực là lẽ sống ở
đời.
Khi xưa ta bé, ta đã từng được nghe rất nhiều câu chuyện cổ tích kể về
những con người lương thiện tuy ban đầu có gặp gian truân sóng gió nhưng rồi
cuối cùng, họ cũng tìm thấy niềm vui, hạnh phúc cho chính mình, còn những kẻ
độc ác, xấu xa sẽ bị trừng phạt đích đáng, phải nhận kết thúc “ác giả ác báo”.
Nhưng đó chỉ là chuyện có trong sách vở, nó không hiện hữu trong cuộc sống thực
này. Mặc dù cái thiện và cái ác luôn song hành ở tất cả mọi thời đại song cuộc đời
là một chuỗi bất công, không có sự trừng phạt đích đáng cho kẻ có tội và không
hẳn lúc nào cũng có phần thưởng xứng đáng cho người có công.
Nhân vật Nhu hay chính là tiếng nói của nhà văn Nam Cao thốt lên rằng:
“Tại sao ở đời lại có nhiều sự bất công đến thế?” Câu hỏi này dường như chính là
một lời khẳng định, nó không phải là một, hai mà là “nhiều”. Tính từ này khẳng
định đời là những ngày tháng triền miên, vô tận và những nghịch lí ngang trái
cũng dần dần thâm nhập, ăn sâu vào cuộc sống con người. Câu nói chưa dừng lại
ở đó, nó được nối tiếp bằng những câu hỏi rất bức xúc: “Tại sao ở hiền không
phải bao giờ cũng gặp lành? Tại sao những kẻ hay nhịn hay nhường thì thường
thường lại chẳng được ai nhường mình?”. Suy nghĩ này không phải tự nhiên Nhu
nghĩ ra, không phải là thoáng chốc mà nó đã ăn sâu vào tiềm thức, qua quá trình
dần dần tiếp xúc, đối diện với cuộc sống xáo trộn thường ngày mà Nhu mới nhận
ra được sự bất công giữa hai luồng tư tưởng tốt – xấu. Thực ra cuộc đời cũng
không đen tối như ta tưởng, cụm từ “không phải bao giờ” thể hiện điều đó. Ở hiền
cũng có lúc gặp được điều tốt đẹp, chuyện may mắn nhưng đời là nơi để con người
bon chen, giành giật của nhau. Những người hiền thì cứ nhẫn nhục, chịu đựng,
phải chăng họ nghĩ mình đối tốt với người khác thì cũng sẽ nhận lại sự đối xử
tương tự? Hay chỉ mong có vậy, những lũ người xấu xa, vô nhân tính càng ỷ thế,
“được đằng chân lân đằng đầu” mà hà hiếp, bắt nạt họ, coi họ là những cái gai
trong mắt, là ngọn cỏ để tha hồ chà đạp, đè nén, muốn loại họ ra khỏi thế giới này.
Dòng suy nghĩ của Nhu tiếp diễn, nhân vật này nghĩ tới những ác ma gây ra bao
tội lỗi cho những người hiền lành: “Còn những kẻ thành công thì hầu hết lại là
những người rất tham lam, chẳng biết nhịn nhường ai, nhiều khi lại xảo trá, lọc
lừa và tàn nhẫn, nhất là tàn nhẫn?”. Những “kẻ thành công” chỉ những loại người
giàu có, hoặc cao sang, có quyền cao chức trọng. Đáng lẽ đây chính là những con
người đáng được xã hội tôn vinh, trân trọng, sùng bái vì sự giỏi giang của họ. Có
mấy ai biết rằng đằng sau sự hào quang chói lòa ấy chứa đựng những bản chất
“tham lam”, “chẳng biết chịu nhường ai”. Đây đúng hẳn là loại người bỉ ổi, dẫm
đạp lên quyền lợi của người khác để giành được lợi riêng, làm giàu cá nhân.
Chẳng nói đâu xa, ta lấy chính nước Việt Nam khi xưa: nước ta là một đất nước
nhỏ bé, con người sống ôn hòa và đặc biệt rất ghét chiến tranh. Có phải vì lẽ đó
mà tạo hóa đã ban tặng cho dân tộc ta những tài nguyên phong phú, những
khoáng sản quý hiếm? Thế nhưng, chính vì nước ta hiền lành, luôn chủ trương hòa
bình mà mấy nghìn năm bị áp bức, đô hộ, đánh chiếm. Hết Tây lại đến Tàu, những
kẻ tham lam, độc ác đã đày đọa tù ải biết bao con người yêu nước, giết hại bao
sinh linh bé bỏng mới chào đời. Như vậy vẫn chưa đủ, lũ “uống máu người” còn
phá hoại nơi sống, chỗ ở của dân tộc ta, đốt rừng, đốt nhà, thiêu hủy mọi nguồn
sống của những người yêu đất nước và căm thù chiến tranh. Sự bất công này
không phải ai cũng thấu và hẳn cũng chẳng ai giải đáp nổi.
Trở về thế kỉ 21, một thế kỉ của sự văn minh, hiện đại, có tòa án, luật pháp,
có nhà tù nhưng cũng chỉ là cái vỏ bọc, đằng sau đấy là những bàn tay đen tối, lọc
lừa, “đổi trắng thay đen”, những hành vi hết sức bạo ngược, tàn nhẫn. Chúng – xã
hội đen tối mưu hại tất cả những ai làm hỏng hay muốn tố cáo ngăn chặn những
việc làm phi pháp, vô nhân đạo nhằm kiếm lợi, Nhà nước dân chủ thì luôn sang
sảng “do dân, vì dân, phục vụ hết lòng” nhưng thực sự rỗng tuếch. “Thuế là
nguồn ngân sách chủ yếu để xây dựng phát triển đất nước”, ở đây cần thêm chữ
“và con người” ở sau cùng. Nhà nước bỏ ra mười tỉ để xây dựng một nhà máy,
trong đó chỉ có một tỉ đưa vào sử dụng, còn lại nào là chủ thầu công trình một ít,
chủ tịch tỉnh một ít... Thôi thì cứ mãi bài ca “Dân thời giàu nhưng nước thời
nghèo”. Một đất nước đang phát triển mà tồn tại những con người như vậy thử hỏi
đến bao giờ mới “sánh vai được với các cường quốc năm châu”? Câu hỏi này có
lẽ sẽ chẳng bao giờ được giải đáp khi vẫn tồn tại những con người lấy tham ô, trục
lợi riêng làm mục đích sống, chỉ quan tâm làm giàu cho bản thân chứ không góp
phần chung tay xây dựng xã hội.
Nam Cao là nhà văn ở thế kỉ 20 – có lẽ là khá xa so với đời sống thực tại
của ta nhưng tư tưởng mà ông gửi gắm qua suy nghĩ của nhân vật trong tác phẩm
của mình thì vẫn thực sự đúng đắn, là vấn đề bức bối của thời kì hiện tại. Cuộc
sống vốn dĩ còn quá nhiều nghịch lí chưa được giải tỏa. Những người tốt ở hiền
chưa thực sự được sung sướng thậm chí họ toàn nhận phải nhiều điều bất hạnh vì
tính khiêm nhường, nhẫn nhịn đã ngấm sâu vào bản chất của họ khiến họ không
thể đủ dũng khí và sức mạnh đứng lên đấu tranh với những mưu mô, tính toán của
bao kẻ cường quyền, bạo ác nhằm giành lấy công lí, lẽ phải. Đây là ý trời, cũng là
lẽ ở đời. Vì vậy, mỗi người trong chúng ta hãy học tập, phấn đấu, rèn luyện đạo
đức để trở thành những người tốt, bảo vệ công lí và chống lại những âm mưu xấu
xa, khiến cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
( Bài làm của em Tăng Bích Ngọc)
Trong bài văn trên, em Ngọc đã thể hiện một thái độ rất rõ ràng: gay gắt lên
án cái xấu, cái ác và những tiêu cực trong xã hội - điều này tạo cho bài viết một
"khẩu khí" mạnh mẽ, rất dễ thuyết phục người khác. Tuy nhiên, sai lầm của em lại
là quá cực đoan khi nhìn nhận xã hội: em chỉ nhìn thấy cái xấu mà không thấy cái
tốt, chỉ thấy mặt trái mà không có cái nhìn toàn diện về các hiện tượng trong xã
hội. Chưa kể tới việc là em còn nhận thức khá lệch lạc về chính trị nên đã đưa ra
không ít lời quy kết nặng nề với một thái độ bi quan. Một bài viết mà người viết có
thái độ thiếu thiện chí và bi quan có thể sẽ được tán thưởng bởi những kẻ thiển cận
và nông nổi chứ không thể tạo ra hiệu ứng tốt trong xã hội, càng không thể có sức
hấp dẫn trên tinh thần nhân văn và tinh thần vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội.
2. Xây dựng đề cương (dàn ý):
Có thể có người cho rằng dàn ý thì có liên quan gì tới "chất văn". Tuy nhiên,
điều tưởng không mấy liên quan ấy lại liên quan mật thiết: bởi dù lời văn có bóng
bẩy hoặc chứa chan cảm xúc mà ý tứ không rõ ràng hoặc rối, thiếu thì sức hấp dẫn
sẽ giảm đáng kể.
Để xây dựng một dàn ý hợp lý, cần bắt đầu từ yêu cầu và cách triển khai ý ở
từng dạng bài cụ thể. Trong nhà trường phổ thông, nghị luận xã hội có ba dạng
chính như sau:
2.1. Nghị luận về một tư tưởng-đạo lí
Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông, do tâm lý, lứa tuổi, tầm nhận
thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức
tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với
cuộc sống hàng ngày như tình cảm quê hương, gia đình, bạn bè, ý thức trách
nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận thức…Những vấn đề này có thể đặt ra
một cách trực tiếp, nhưng thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn ( tục ngữ,
ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hóa, khoa học, nhà
văn nổi tiếng...).
Đối với dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí, để giải quyết vấn đề, ta
cần lưu ý cách xem xét nó từ nhiều góc độ. Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả
lời những câu hỏi. Sau đây là một số dạng câu hỏi chính:
- Nó là gì?
- Nó như thế nào?
- Vì sao lại như thế?
- Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người, với bản thân?
Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận
về một tư tưởng đạo lí cần được triển khai theo ba bước cơ bản sau:
- Giải thích, cắt nghĩa
- Lý giải
- Đánh giá
Cụ thể như sau:
Bước 1: Giải thích, cắt nghĩa.
Tuỳ theo từng yêu cầu cụ thể mà mức độ và cách giải thích có thể sẽ khác
nhau. Chẳng hạn, với câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu “Hỏi thời ta phải nói ra / Vì
chưng hay ghét cũng là hay thương”, điều cần giải thích trước hết là khái niệm “
ghét” và “ thương” rồi trên cơ sở đó giải thích, cắt nghĩa nội dung ý thơ Nguyễn
Đình Chiểu. Với lời dạy cuả Phật “ Giọt nước chỉ hòa vào giữa biển cả mới không
cạn mà thôi”, trước hết cần xác định nghĩa đen của những từ “giọt nước”, “biển
cả”, “không cạn” rồi suy luận ra nghĩa bóng. Với quan niệm của Trịnh Công Sơn
“Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối, sống trên đời cần có một tấm lòng,
dù chỉ là để gió cuốn đi”, cần lần lượt giải thích các mệnh đề, các hình ảnh “sông
vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối", "tấm lòng”, "cần có tấm lòng” “tấm
lòng để gió cuốn đi” để trên cơ sở đó xác định chính xác nội dung thông điệp được
gửi gắm trong câu nói.
Có những đề bài, khâu giải thích có thể làm rất gọn gàng, đơn giản, nhất là
khi trong yêu cầu, nhận định không có những khái niệm phức tạp, khó hiểu
hay những hình ảnh có khả năng khơi gợi những tư tưởng sâu xa. Thế nhưng lại có
những đề bài, khâu giải thích cần làm rất công phu. Chẳng hạn với quan niệm của
Viên Mai “Làm người không thể không phân biệt giữa nhu mì và nhu nhược, giữa
cứng cỏi và cường bạo,giữa tiết kiệm và keo kiệt, giữa trung hậu và khờ khạo,giữa
sáng suốt và cay nghiệt, giữa tự trọng và tự đại, giữa khiêm tốn và hèn hạ. Mấy cái
đó hình như giống nhau mà thực khác nhau”, có rất nhiều các mệnh đề cần giải
thích như “làm người” phân biệt “cường bạo và cứng cỏi”, “nhu mì và nhu nhược”,
“keo kiệt và tiết kiệm”,“tự trọng và tự đại", “trung hậu và khờ khạo” “khiêm tốn và
hèn hạ”, “sáng suốt và cay nghiệt”... Bởi vì nếu không giải thích tận tường tận
những mệnh đề ấy sẽ không xác định nổi ý nghĩa, phạm vi nghĩa trong quan điểm
của Viên Mai.
Bước 2: Lí giải
Bản chất của thao tác này là giảng giải cái nghĩa lý của vấn đề
được đặt ra để làm sáng tỏ bản chất vấn đề cùng với các khía cạnh, các mối
quan hệ của nó.
Để làm được việc này, chúng ta cần tách vấn đề thành các khía cạnh nhỏ để
xem xét nghiên cứu. Cách đơn giản nhất là đặt ra các câu hỏi để khảo sát, tìm hiểu.
Muốn đặt ra được những câu hỏi thật sự cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu đề,
cần làm thật tốt khâu giải thích để xác định chính xác vấn đề mà đề bài đặt ra cùng
với các khía cạnh, phương diện của nó. Chỉ khi ấy mới có thể xác định được những
gì cần lí giải cho vấn đề trở nên sáng tỏ rõ ràng.
Chẳng hạn với vấn đề nhận thức đặt ra trong quan niệm của J. Houston “
Chúng ta sẽ nắm được 10% những gì đọc được, 15% những gì nghe thấy và 80%
những gì tự trải nghiệm” thì sau khi giải thích để xác định rằng chúng ta chỉ nắm
được phần nhỏ những gì mình đọc được, nghe thấy và sẽ nắm được phần lớn
những gì tự trải nghiệm, chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi sau:
- Vì sao chúng ta chỉ tiếp thu đựơc 1 phần nhỏ những gì đọc được, nghe
thấy?
- Vì sao chúng ta sẽ nắm được phần lớn những gì tự trải nghiệm?
Việc suy nghĩ tìm câu trả lời sẽ giúp ta tháo gỡ dần để tiếp cận và nắm vững
bản chất vấn đề. Với câu hỏi thứ nhất, chúng ta cần thấy rõ những khía cạnh sau:
- Vì mỗi chúng ta đều chỉ có một giới hạn về năng lực, một giới hạn về
chuyên môn và một giới hạn về phạm vi hiểu biết nên không phải những gì ta đọc
được, nghe thấy đều có thể hiểu hết được.
- Vì trong trường hợp đó, sự tiếp thu của chúng ta chỉ là tiếp thu một cách
gián tiếp qua hiểu biết, nhận thức, cách nhìn và cách lí giải của người khác.
- Vì những gì đọc được, nghe thấy mà chưa có sự kiểm nghịêm trong thực tế
thì ý nghĩa, giá trị của nó chưa thể bộc lộ rõ ràng trọn vẹn.
Với câu hỏi thứ hai, chúng ta cần thấy được những khía cạnh sau:
- Khi trải nghiệm, chúng ta sẽ nắm bắt trực tiếp vấn đề trong ý nghĩa thực tế
của nó.
-Khi trải nghiệm, dù thành công hay thất bại ta cũng có được những kinh
nghiệm thực tế để giải quyết vấn đề.
- Khi tự trải nghiệm, ta sẽ phải vận dụng toàn bộ năng lực, hiểu biết trong
quá trình tích luỹ trước đó để ứng phó, xử lý với tình huống cụ thể, đó chính là
điều kiện để ta nắm bắt nó một cách trọn vẹn hơn.
Bước 3: Đánh giá.
Đây là phần việc để học sinh bộc lộ nhận thức về vấn đề ở mức độ cao nhất,
cũng là phần việc gây khó khăn cho học sinh nhiều nhất.
Vì vậy, trước hết chúng ta cần đánh giá vấn đề ở các bình diện, khía cạnh
khác nhau :ý nghĩa tư tưởng, ý nghĩa thực tế, mức độ đúng-sai, đóng góp-hạn
chế…
Từ sự đánh giá trên các bình diện, ta cần nhìn nhận giá trị của vấn đề như
một bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức
cũng như trong tình cảm, tư tưởng để tự mình bồi đắp, nâng cao kinh nghiệm sống,
kinh nghiệm ứng xử trong đời sống.
Ngoài ra, tùy theo yêu cầu và tính chất cụ thể của từng đề bài mà học sinh có
thể bổ sung thêm phần liên hệ- mở rộng. Phần này nên có trong những đề bài đề
cập đến những vấn đề gắn liền hoặc gần gũi với đời sống của lứa tuổi học sinh. Ví
dụ: phương pháp học tập, tích lũy kiến thức, quan hệ bạn bè, cách sống và cách
ứng xử…ở những đề bài như thế, việc liên hệ- mở rộng cũng chứng tỏ mức độ hiểu
và khả năng cảm nhận vấn đề của học sinh.
2.2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Khác với dạng đề bàn về một tư tưởng đạo lí, dạng đề này thường nêu lên
một hiện tượng có thật trong đời sống. Đó có thể là một hiện tượng tích cực, nhưng
cũng có thể là một hiện tượng tiêu cực trong x• hội, hoặc một hiện tượng có cả hai
mặt tích cực lẫn tiêu cực... Như thế đòi hỏi người viết bằng nhận thức của bản thân
phải thể hiện được chủ kiến của mình, bằng phân tích và lập luận để ca ngợi và
biểu dương cái đẹp, cái tốt, cái thiện ( chân, thiện, mĩ) và lên án, vạch trần cái xấu,
cái ác, cái phi nhân... Tất nhiện những hiện tượng đời sống nêu trong các đề văn
dạng này vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa có ý nghĩa lớn lao đối với cả
cộng đồng dân tộc và thế giới.
Để luyện tập viết các bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống, trước
hết cần biết nhận diện hiện tượng ấy(sự việc, con người): các biểu hiện, các dạng
tồn tại, thậm chí cần cả những số liệu cụ thể. Thực hiện thao tác này đòi hỏi học
sinh một sự hiểu biết và quan tâm đến các vấn đề đang tồn tại trong đời sống xã hội
hiện nay. Nghĩa là không phải đợi tới lúc nhận đề bài mới tìm hiểu mà các em nên
có sự chuẩn bị từ trước bằng việc chú ý nghe thời sự hàng ngày, cập nhật thông tin
về các vấn đề trong nước cũng như quốc tế. Tất nhiên không phải hiện tượng nào
cũng được đặt ra trong các đề NLXH mà phải là những gì có ý nghĩa sâu sắc, tạo
ảnh hưởng rộng-và thường là ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng và cuộc sống
của chính lứa tuổi học sinh : ô nhiễm môi trường, an toàn giao thông, các căn bệnh
xã hội như HIV/ AIDS, các tệ nạn như nghiện ma túy, mại dâm, các thói quen xấu
như ham mê internet, hút thuốc lá, quay cóp bài trong giờ kiểm tra… Tất nhiên,
cũng có khi người ra đề đưa ra những hiện tượng có ảnh hưởng tích cực làm đề tài
bàn luận như việc triển khai quỹ "vì người nghèo" , sự trở lại với trào lưu sống giản
dị, phong trào thanh niên tình nguyện hay những tấm gương hiếu thảo, vượt khó
của thanh thiếu niên... Khi phản ánh thực trạng, ta cần đưa ra những con số,những
thông tin cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ vì chính sự cụ thể của thông tin
sẽ tạo sức thuyết phục cho những ý kiến đánh giá sau đó. Chẳng hạn, muốn bàn về
tình trạng ô nhiễm nguồn nước, cần tìm thông tin về những con sông đang bị ô
nhiễm nặng nhất, mức độ ô nhiễm cụ thể, các loại chất gây ô nhiễm hiện có mặt
trong nguồn nước sông…Muốn bàn về nạn bạo hành với phụ nữ, cần tìm hiểu xem
trong xã hội hiện tại người phụ nữ phải đối mặt với những kiểu- dạng bạo hành
như thế nào, tỉ lệ phụ nữ phải sống chung với nạn bạo hành…
Sau khi xác định rõ thực trạng, cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên
nhân, hậu quả và cố gắng tìm các giải pháp để giải quyết thực trạng đó. Việc này
không quá khó. Chỉ cần chú ý một chút tới cách nói của các phóng viên, bình luận
viên trên các báo, đài, chú ý quan tâm đến dư luận xã hội và chịu khó tìm hiểu
cuộc sống xung quanh mình là các em sẽ làm được. Tuy nhiên, khi nghe và tiếp
nhận thông tin, dư luận, cần có sự tỉnh táo để xem xét, chọn lọc và xử lí đích đáng
trên cơ sở hiểu biết và cố gắng xây dựng một lập trường tư tưởng vững vàng, tránh
chạy theo dư luận không chính thống mà dẫn tới chủ quan, hồ đồ khi phân tích,
đánh giá hiện tượng. Lưu ý là khi phân tích nguyên nhân nên chú ý tới các mặt
khách quan- chủ quan. Chẳng hạn, với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên
nhân khách quan là do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng,
phân tuyến, hệ thống biển báo chỉ dẫn, chất lượng của phương tiện tham gia giao
thông…), nguyên nhân chủ quan là người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ
về trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp, chưa chú ý đúng mức tới vấn đề an
toàn… Khi đánh giá hậu quả cần xem xét ở các phạm vi cá nhân-cộng đồng, hiện
tại- tương lai…Ví dụ: nạn bạo hành phụ nữ gây hậu quả nghiêm trọng không chỉ
với chính người phụ nữ về mọi mặt sức khỏe cũng như tâm lý mà còn ảnh hưởng
đến toàn xã hội trong cả quá trình phát triển lâu dài; hiện tượng nghiện internet
không chỉ làm hao tổn về sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân
cách cá nhân mà còn tạo mầm mống cho những bất ổn trong xã hội. Còn khi tìm
giải pháp, ta cần xem lại phần nguyên nhân vì chính nó là gợi ý tốt nhất. Chẳng
hạn một trong những nguyên nhân của nạn bạo hành phụ nữ là nhận thức về bình
đẳng giới thì một trong những giải pháp khắc phục tình trạng này là tuyên truyền
giáo dục để nâng cao nhận thức và ý thức về bình đẳng giới cho cộng đồng,nguyên
nhân của tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông chưa có ý thức trách
nhiệm, chưa nắm vững luật pháp và chưa chú ý đầy đủ đến sự an toàn thì một trong
những giải pháp có thể thực hiện là tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông,
xây dựng chế tài xử phạt đối với những trường hợp vi phạm an toàn giao thông…
Về cơ bản, bài nghị luận về hiện tượng đời sống cần là sự bộc lộ vốn hiểu
biết và lập trường, thái độ của người viết về hiện tượng được nêu. Vì vậy, bên cạnh
việc nắm vững các bước cơ bản trong quá trình làm bài, người viết còn cần thể
hiện tiếng nói cá nhân và quan điểm đánh giá thật rõ ràng, sắc sảo, bài viết mới có
sức thuyết phục.
2.3. Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Đây là dạng đề tổng hợp, đòi hỏi học sinh kiến thức về cả hai mảng văn học
và đời sống, cũng đòi hỏi cả kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích, đánh
giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được người viết về cả kiến thức văn
học và kiến thức đời sống. Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu ý nghĩa
có trong một tác phẩm văn học nào đó để yêu cầu HS bàn bạc rộng ra về vấn đề xã
hội đó. Vấn đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra từ một tác phẩm văn học đã học
trong chương trình nhưng cũng có thể người viết phải rút ra từ một câu chuyện
chưa được học ( thường là một câu chuyện ngắn gọn, giàu ý nghĩa- truyện mini).
Hãy đọc các đề văn sau đây:
Để làm dạng bài này, người viết trước hết phải phân tích tác phẩm theo
hướng làm rõ vấn đề xã hội cùng với các khía cạnh, các phương diện biểu hiện của
nó. Chẳng hạn, trong sách giáo khoa lớp 11 nâng cao có đề bài sau : Từ bài thơ
“Tiến sĩ giấy” của nhà thơ Nguyễn Khuyến, anh (chị) hãy viết bài văn bàn về danh
và thực trong cuộc sống hiện nay. Với đề bài này,trước hết cần phân tích sơ lược
bài thơ “Tiến sĩ giấy” để xác định vấn đề mà Nguyễn Khuyến đặt ra là sự mâu
thuẫn giữa cái danh tiến sĩ với cái thực tầm thường, thấp kém về cả năng lực và vai
trò của ông tiến sĩ trong xã hội đương thời khiến cho danh hiệu tiến sĩ cao quý là
thế lại hóa thành giả dối đáng khinh và những nỗ lực học hành để cầu chút công
danh lại hóa thành đáng thương, thảm hại. Sau khi đã xác định chính xác vấn đề,
cần xem xét ý nghĩa của nó trong tác phẩm, trong cuộc sống ở thời điểm tác phẩm
ra đời và ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống hôm nay. Bài thơ "Tiến sĩ giấy" ra
đời vào thời kì đất nước đã rơi vào họa xâm lăng, bút nghiên, chữ nghĩa của ông
tiến sĩ không đủ để cứu nước, cứu đời, tài cán của ông tiến sĩ không đủ để đuổi
giặc. Đó là chưa kể đến chuyện xã hội giao thời lố lăng, chuyện mua quan bán tước
chả khác chi mua bán những món hàng thông thường thì cái danh tiến sĩ lại càng
không đáng giá. Khi bàn về vấn đề trong mối liên hệ với cuộc sống hiện tại, ta sẽ
tùy theo tính chất của vấn đề mà có cách xử lí cụ thể. Nếu vấn đề đặt ra mang màu
sắc tư tưởng- đạo lí, cần trở lại với mô hình căt nghĩa- lí giải- đánh giá.Nếu vấn đề
đặt ra là một hiện tượng đời sống, cần trở lại với mô hình thực trạng- nguyên nhân-
kết quả (hậu quả)- đề xuất ý kiến (nêu giải pháp). Chẳng hạn với đề bài " Đọc
truyện Tấm Cám, anh (chị) có suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa người tốt và kẻ
xấu, cái thiện và cái ác trong xã hội xưa và nay", sau khi nói về tuyện Tấm Cám và
cuộc đấu tranh giữa người tốt và kẻ xấu, cái thiện và cái ác trong xã hội thời xưa,
cần thấy rằng đây là một hiện tượng đời sống tồn tại trong cuộc sống mọi thời. Xác
định được điều này khi chuyển sang bàn về cuộc đấu tranh trong xã hội ngày nay,
cần nhìn nhận rõ thực trang về sự tồn tại của cái xấu, cái ác trong xã hội hiện tại,
nguyên nhân, hậu quả của hiện tượng này và đề xuất giải pháp khắc phục. Cũng có
những vấn đề vừa mang màu sắc tư tưởng- đạo lí lại vừa mang dáng dấp của một
hiện tượng đời sống. Để xử lí loại vấn đề như thế cần có sự linh hoạt trong cách
thức. Chẳng hạn, vấn đề danh và thực là một vấn đề thuộc về nhận thức, tư tưởng
song cách ứng xử với cái danh và cái thực lại là một hiện tượng đời sống khá phức
tạp thì để bàn về danh và thực trong cuộc sống hôm nay, ta cần hiểu khái niệm
“danh”, “thực”, mối quan hệ cần có giữa hai vấn đề này, tác dụng, ý nghĩa của sự
tương xứng giữa danh và thực cũng như tác hại của mối quan hệ khập khiễng giữa
chúng. Bước tiếp theo, cần phân tích thực tế quan hệ giữa danh và thực trong đời
sống xã hội hiện nay ở các mặt thực trạng, nguyên nhân,kết quả và hậu quả của
mối quan hệ này. Cuối cùng, người viết nên có một phần nêu kinh nghiệm, bài học
nhân sinh mà mình nhận thức được, đúc rút ra từ toàn bộ quá trình tìm hiểu vấn đề.
Với vấn đề danh và thực thì bài học rút ra là không nên chạy theo những thứ danh
tiếng hão song cũng không nên thờ ơ, coi thường cái danh, cần tu bổ cho cái thực
để cái danh đáng được tôn trọng.
Cần lưu ý là dạng bài này rất dễ lẫn với bài nghị luận văn học vì buộc phải
có khâu phân tích tác phẩm để xác định vấn đề cần nghị luận. Để tránh nhầm lẫn,
cần xác định và phân biệt rõ sự khác biệt về mục đích và cách thức tiến hành. Mục
đích của NLVH là bàn bạc, phân tích để đánh giá chất lượng về nội dung-nghệ
thuật của văn bản tác phẩm, còn mục đích của NLXH là phân tích, đánh giá để đưa
ra ý kiến về vấn đề xã hội được đặt ra ở văn bản tác phẩm đó. Vì thế khi làm bài
NLVH, cần cắt nghĩa, bình giá cái hay, vẻ đẹp của các yếu tố của văn bản như
ngôn ngữ , hình tượng về cả hai phương diện nội dung ý nghĩa và đặc sắc nghệ
thuật còn khi làm bài NLXH lại chỉ cần chú ý đến mặt nội dung. Hơn nữa, với
NLVH, việc phân tích văn bản là mục đích còn trong NLXH nó lại chỉ là phương
tiện, là thao tác đầu tiên khởi đầu cho cả một quá trình sau đó.
Trên cơ sở hiểu biết chung về cách làm bài, học sinh cần vận dụng để lập
dàn ý cho những đề bài cụ thể. Dàn ý càng rõ ràng, mạch lạc, bài viết càng dễ
triển khai và có sức thuyết phục cao. Chẳng hạn, với đề số 3 (đã dẫn), có thể xây
dựng một dàn ý như sau:
a. Mở bài:
- Cuộc sống với nhiều áp lực có thể khiến con người luôn sống trong trạng
thái căng thẳng - trạng thái khiến con người rất khó kiềm chế bản thân, khó điều
chỉnh và kiểm soát hành vi, lời nói. Trong trạng thái như thế, xung đột, mâu thuẫn
có thể nổ ra bất cứ lúc nào làm tổn thương, thậm chí phá vỡ những mối quan hệ tốt
đẹp.
- Vấn đề đặt ra là: làm thế nào để giữ lại những mối quan hệ tốt đẹp, giữ lại
những gì quý giá và cần thiết của cuộc sống. Mẩu chuyện dưới đây có thể chính là
một câu trả lời đầy thấm thía cho những ai thực sự quan tâm tới vấn đề này: " Tại
một thị trấn nhỏ ở Tây Ban Nha, có một người đàn ông tên Jorge vừa cãi vã dữ dội
với cậu con trai Paco của mình. Ngày hôm sau ông phát hiện giường của Paco
trống không - cậu bé đã bỏ nhà đi. Vượt qua cảm giác ăn năn, hối hận về những
điều đã xảy đến, Jorge nhìn lại mình và nhận ra rằng, với ông, cậu con trai quan
trọng hơn tất cả. Với mong muốn bắt đầu lại, Jorge đến một cửa hiệu nổi tiếng ở
trung tâm thị trấn và dán một tấm giấy có dòng chữ: "Paco, con hãy trở về nhà. Bố
yêu con. Hãy gặp bố ở đây vào sáng mai con nhé!". Sáng hôm sau, khi Jorge đến
cửa hiệu, thì không chỉ có một, mà đến bảy cậu bé cùng có tên Paco bỏ nhà ra đi
đã đứng đợi ở đấy..."
b. Thân bài:
b. 1. Ý nghĩa câu chuyện:
- Trận cãi vã là biểu hiện của xung đột, mâu thuẫn giữa hai bố con - điều rất
dễ xảy ra trong cuộc sống khi có sự bất đồng trong quan điểm, cách sống, cách ứng
xử giữa con người với nhau.
- Suy nghĩ của người cha "với ông, cậu con trai quan trọng hơn tất cả" và
hành động viết lời nhắn "bố yêu con" là biểu hiện tình yêu của người cha với con
và sức mạnh của tình yêu ấy trong tâm hồn người cha.
- Sự việc không chỉ có một mà đến bảy cậu bé cùng có tên Paco đã vì lời
nhắn mà đứng đợi ở cửa hiệu cho thấy khả năng tác động của tình yêu thương và
nhu cầu về tình yêu thương của con người.
* Như vậy, có thể thấy câu chuyện đ
Đồng bộ tài khoản