Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ

Chia sẻ: An | Ngày: | 2 tài liệu

0
156
lượt xem
0
download
Xem 2 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ

Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ
Mô tả bộ sưu tập

Các em muốn tìm kiếm nhiều tài liệu tham khảo khi soạn văn? Hãy đến với bộ sưu tập Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ được thư viện eLib sắp xếp và tuyển chọn dưới đây. Thông qua bài soạn hay trong bộ sưu tập sẽ giúp các em biết cách lập dàn ý, nắm được những nội dung trọng tâm khi soạn văn.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ

Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ
Tóm tắt nội dung

Đây là một đoạn trích hay trong BST Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ. Mời quý thầy cô tham khảo:

I. Những kiến thức cần lưu ý
1. Để đọc - hiểu bài thơ
, cần biết hoàn cảnh cụ thể của nhà thơ khi sáng tác bài thơ này. Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm 8 bài Thu hứng, sáng tác năm 766. Năm đó, loạn An Lộc Sơn đã bị dẹp nhưng đất nước vẫn kiệt quệ vì chiến tranh. Bản thân Đỗ Phủ thì đang còn lưu lạc, cách quê hương hàng ngàn dặm. Hoàn cảnh ấy đã làm nền cho tình điệu bi thương của bài thơ.

2. Có nhiều cách phân tích một bài thơ Đường thất ngôn bát cú. Chúng ta thường gặp cách phân tích 4 phần: đề, thực, luận kết. Bài Thu hứng gồm hai bức tranh: ngoại cảnh và tâm cảnh, 4 câu đầu thiên về tả cảnh, 4 câu sau thể hiện cái tình trên nền phong cảnh vừa dựng. Vì vậy, để đọc - hiểu Thu hứng, các em cần dựa theo bố cục này.

3. Đối chiếu nguyên tắc với bản dịch nghĩa để thấy cái hay của nguyên tác mà bản dịch thơ chưa chuyển tại được hoặc chưa chuyển tải hết (xem gợi ý ở phần luyện tập).

4. Hướng cảm nhận bài thơ:
a. Bốn câu đầu: cảm xúc của bài thơ được bắt đầu từ sự điêu thương của rừng phong. Rừng phong nhuốm đỏ là cảnh đặc trưng của mùa thu ở Trung Quốc. Từ điêu thương vừa tả cảnh thực, vừa ngụ tình, gợi sự tiêu điều, lụi tàn. Núi Vu, kẽm Vu vốn hùng vị, hiểm trở nhưng cũng bị chìm trong hơi thu hiu hắt. Sóng dữ dội (vọt lên tận lưng trời) là đặc trưng của mùa thu trên sông Trường Giang. Trên cửa ải (biên giới), mây sà xuống mặt đất âm u là vừa câu tả, vừa bộc lộ nỗi lo âu biên giới.
Như vậy, bôn câu đầu, không gian được nhìn trong tầm xa, là cảnh thu hiu hắt hàm chứa nỗi niềm của nhà thơ.
b. Bốn câu cuối: Quan sát phía xa (4 câu đầu), rồi tầm quan sát thu hẹp, đọng lại ở hình ảnh khóm cúc, con thuyền. Đến đây, tình cảm cũng được bộc lộ một cách trực tiếp: tuôn rơi nước mắt, tấm lòng nhớ nơi vườn cũ. Hình ảnh Cô chu (con thuyền lẻ loi) gợi tình cảnh của nhà thơ. Ở hai câu thơ 5, 6 có sự đồng nhất giữa cảnh và tình, giữa hiện tại và quá khứ, giữa sự vật và con người. Hai câu cuối xuất hiện âm thanh rộng ràng, dồn dập. Âm thanh ấy không làm vơi được nõi u buồn của nhà thơ, trái lại, nó càng khơi sâu thêm nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân. Hai câu kết buồn và dư ba là vì vậy.

II. Gợi ý tìm hiểu bài
1. Nhận xét sự thay đổi của tầm nhìn trong bài thơ
Bốn câu đầu là bức tranh phong cảnh thiên nhiên với các hình ảnh sương, núi, rừng phong, dòng sông, con sóng, những đám mây sà xuống mặt đất... Bốn câu sau, không gian được thu lại về gần với các hình ảnh khóm cúc, con thuyền và cuối cùng là không gian nội tâm: giọt nước mắt, tấm lòng nhớ nơi vườn cũ. Sự thay đổi tầm nhìn từ cao xuống thấp, từ xa đến gần, phù hợp với sự chuyển đổi của thời gian: chiều dần buông, tầm nhìn bị thu hẹp lại và đặc biệt là phù hợp với mạch cảm xúc của nhà thơ. Tứ thơ được hình thành từ cảm hứng trước mùa thu tức đi từ ngoại cảnh đến tâm cảnh.

2. Giải thích mối quan hệ giữa 4 câu đầu và 4 câu cuối, giữa toàn bài và nhan đề.
Đây là mối quan hệ nhất quán trong mạch cảm xúc mùa thu.
Cảm hứng được bắt đầu bằng cái nhìn khái quát, phía xa (4 câu đầu) đến cái nhìn cụ thể, ở gần (4 câu sau). Mùa thu đến thường gợi nỗi buồn trong lòng người, hơn nữa, đặt vào hoàn cảnh cụ thể của Đỗ Phủ, không buồn sao được! Toàn bộ bài thơ đều có cảm xúc và cái riêng của mùa thu. Nếu ở câu 1 ta nhận ra chất thu và cảm xúc thu và rừng phong lá đỏ thì ở câu 2 là hơi thu hiu hắt. Câu 3, câu 4 hiện lên cảnh núi Vu, kẽm Vu, sóng nước Tràng Giang khi thu về. Khung cảnh ấy gợi một nỗi buồn lo. Các câu còn lại cũng thể hiện đặc trưng mùa thu: cúc nợ, mọi người chuẩn bị may áo chống một mùa thu rét đang đến. Hình ảnh ấy gợi cảm xúc về quê hương trong thi nhân. Toàn bài như vậy đều gói gọn trong nhan đề. Bởi lẽ chính cái cảnh tiêu sơ và dữ dội của màu thu đất khách làm nên cảm xúc mùa thu xót xa của thi nhân.

III. Hướng dẫn thực hành.
1. Do nhiều em không biết chữ Hán,
hơn nữa, nguyên tác chữ Hán không có, chỉ có phần phiên âm nên các em cần đối chiếu phần dịch nghĩa và dịch thơ in trong SGK xem bản dịch thơ bỏ sót từ ngữ, hình ảnh nào, bản dịch đã sát chưa, đúng ý của nguyên tác chưa? Ví dụ câu 1: hình ảnh Sương móc trắng xóa và rừng phong tiêu điều chưa được định hình và tính cụ thể trong bản dịch thơ: Lác đác rừng phong hạt móc sa. Nhưng câu thơ dịch tài tình ở chỗ rất gợi cảm.

Hay như câu 7 "cô chủ" được dịch là "con thuyền", bỏ mất chữ "cô" làm mất đi sự lẻ loi, cô độc. 

Quý thầy cô giáo và các em học sinh cùng tham khảo toàn bộ BST Soạn bài Thu hứng của Đỗ Phủ bằng cách đăng nhập vào Website eLib.vn nhé!
Đồng bộ tài khoản