Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
36
lượt xem
1
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó

Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó
Mô tả bộ sưu tập

Các tài liệu hay, chất lượng được chọn lọc và biên soạn kỹ lưỡng trong bộ sưu tập Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó dưới đây sẽ giúp quý thầy cô giáo và các em học sinh có thêm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập môn Ngữ Văn. Các tài liệu về chủ đề này được chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn và tổng hợp thành bộ sưu tập giúp quý thầy cô giáo và các em học sinh dễ dàng tìm kiếm. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó

Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô và các em cùng tham khảo Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó được trích từ bộ sưu tập cùng tên dưới đây:

Yếu tố trào phúng và trữ tình trong thơ Trần Tế Xương thường đan xen nhau, trong cái này luôn có cái kia và ngược lại.
Những bài nghiên cứu về Tú Xương, nhất là của các nhà thơ, nhà nghiên cứu có uy tín như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, v.v… đều dành bút lực tập trung khai thác nhiều phần trữ tình, phần đau thương, xót xa của Trần Tế Xương trước thời cuộc mất nước và cảnh nghèo khổ, bần cùng của bản thân. Nhưng có điều lạ, đông đảo độc giả lại nhớ Tú Xương nhiều hơn với tư cách nhà thơ trào phúng, họ thường vận dụng các câu thơ có tính nghịch cảnh, nghịch lý, gây cười của ông. Như vậy, trong văn hóa đại chúng, người đọc nhìn Tú Xương với tư cách nhà thơ trào phúng, còn trong văn hóa hàn lâm, người ta khai thác sâu vị thế nhà thơ trữ tình của ông.

Nhìn một cách khái lược, trong thơ trào phúng luôn có những yếu tố đi cùng đại chúng, thời cuộc; còn thơ trữ tình hay đi với những điều nghiêm chỉnh, nghiêm ngắn. Khi thời cuộc có nhiều nghịch lý, lố bịch và vô lý trong đời sống, những người sáng tác, nhất là sáng tác dân gian, thường chĩa ngòi bút vào và khai thác các mặt đen trắng, mâu thuẫn đó thành tiếng cười. Do đó, người ta tổng kết, khi trào phúng phát triển, xã hội thường có những rối loạn, loạn chuẩn; khi trào phúng ít đi, nói chung xã hội đạt được sự nghiêm túc, căn cơ. Điều này nếu áp vào thời của Tú Xương, sau Hiệp định 1884, triều đình Huế nhường toàn bộ quyền quản lý cho Pháp, nước ta mất hoàn toàn vào tay thực dân, từ đây sản sinh ra một tầng lớp mới là đám công chức đi làm cho Pháp, nảy sinh chủ nghĩa tư bản ở thành thị. Cùng với đó là lối sống mới, nhân sinh quan mới mâu thuẫn với triết lý nhà Nho. Tất cả những điều này kích thích Tú Xương sắc sảo nhìn ra các mặt đối lập đó. Tất nhiên, bên cạnh Tú Xương còn có những cây bút khác, có thể tài không bằng ông, nhưng cũng tạo ra sự đồng thanh tương ứng. Đây là thời kỳ đề tài chế giễu, bài bác, đả kích rất phát triển.
Cười người và cười mình
Thơ trào phúng của Tú Xương rất phong phú, vì nó là tấm gương soi chiếu cuộc đời nên cuộc đời có gì thì nó hiện lên, không phân biệt đề tài lớn, nhỏ. Hễ chúng đụng vào tâm hồn, trái tim, tư tưởng của Tú Xương thì ông đều tìm ra tiếng cười đả kích. Tuy nhiên, nhìn một cách hệ thống, ta có thể hình dung về hai mảng đề tài lớn trong thơ trào phúng Tú Xương. Trước hết là cảnh đời, xã hội khách quan. Ở đó, ông tìm ra những điều trái đạo lý như chuyện nhà sư phá giới, tằng tịu với đệ tử, chuyện những kẻ dốt nát lại được làm quan, việc thi cử và thái độ ngạo mạn của bọn thực dân, những suy vi thoái trào của đạo học và nền nếp Nho giáo.

Mảng đề tài thứ hai khá nổi bật trong thơ Tú Xương là tinh thần trào lộng, tự giễu cợt. Biết tự cười mình luôn là bản lĩnh rất lớn và ngạo nghễ của những người có cá tính. Với Tú Xương, ông tự thấy bản thân có những nghịch lý để tự trào. Ông là người thông minh, có tài thơ văn, nhưng thi mấy lần cũng chỉ đỗ đến tú tài, đạt được cái bằng cũng không dùng để đi làm mà chỉ là thứ ghi nhận một nấc thang học vấn. “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ”, ông tự giễu mình, tự lấy mình ra sỉ vả, và vì không động chạm đến ai nên ông thường phóng to nhược điểm của mình. Qua đó cho thấy, trong những nghịch lý này có lỗi của thời đại, xã hội. Chẳng hạn, ông không có nhiều quần áo, chỉ có một tấm áo bông rất đẹp. Do đó, khi phải tiếp khách, dù trời nóng phát sốt, ông vẫn phải mặc áo rét. “Bức sốt mà mình vẫn áo bông - Tưởng rằng ốm dậy hóa ra không”. Cảnh đó thật buồn cười, nhưng sau cái cười là sự thương cảm với thân phận nhà thơ nghèo khổ.

Rồi chuyện Tú xương phải lo việc nhà để vợ đi buôn bán kiếm tiền. Mặc dù không giỏi việc gia chánh nhưng vì không biết kiếm tiền nên Tú Xương phải ở tư thế “làm vợ” với những câu tự giễu mình như: “Vuốt râu nịnh vợ con bu nó - Quắc mắt khinh đời cái bộ anh”. Ra đời thì quắc mắt coi thường mọi người vì ỷ thế là người có tài, nhưng về nhà vẫn phải nịnh vợ vì kinh tế do vợ nắm. Mà thời đồng tiền làm chủ thì kinh tế quan trọng lắm, nên vẫn phải “Vuốt râu nịnh vợ con bu nó” là thế.

Cái hay ở Tú Xương là đằng sau việc ông tự giễu ông nhà Nho, ta thấy cả một đạo học suy vi. Thời trước là “duy hữu độc thư cao”, chỉ người đọc thánh hiền mới đáng được coi trọng, thì bây giờ không còn như vậy nữa. Thậm chí có lúc ông coi mình như một thứ ăn hại, như đứa con trong số những đứa con bà Tú phải nuôi. Không ai lấy chồng cộng với con thành một nhóm như Tú Xương đã viết trong bài Thương vợ. 

Hãy tham khảo tài liệu đầy đủ và nhiều tài liệu hay khác trong BST Thơ trào phúng Trần Tế Xương: Cười đó rồi khóc đó!.
Đồng bộ tài khoản