Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
129
lượt xem
8
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch

Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch
Mô tả bộ sưu tập

Chúng tôi xin giới thiệu đến quý thầy cô giáo và các em học sinh bộ sưu tập Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch nhằm giúp cho việc dạy và học môn Ngữ văn trở nên hiệu quả hơn. Bộ sưu tập này gồm các bài văn hay, chất lượng phân tích nhân vật Kiều trong Truyện Kiều để thấy được vận mệnh bi kịch của bậc hồng nhan. Mời quý thầy cô giáo và các em học sinh tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn trong chương trình.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch

Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô giáo tham khảo phần trích dẫn nội dung của tài liệu đầu tiên trong bộ sưu tậpThúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch dưới đây:

I. Mở bài "Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch"

Mộng Liên Đường chủ nhân đã khái quát về thân thế Thúy Kiều: “Khi lại lắng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi duyên ưa kim cải non biển thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía cõi đi về nghĩ cũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ càng tê lưỡi...” Thúy Kiều đã trải qua hầu hết những đau khổ của người phu nữ dưới chế độ phong kiến; gia đình li tán, tình yêu tan vỡ, làm gái thanh lâu, làm nô tì, làm vợ lẽ, tu hành bất đắc chí, và rồi cuộc đời hầu hết không chồng, không con giữa 30 tuổi xuân.

II. Thân bài "Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch"

Nhân vật Nguyễn Du là một con người luôn luôn có ý thức về “kiếp đoạn trường” của bản thân, nhưng đồng thời, luôn luôn hướng tới ánh sáng của hạnh phúc, Thúy Kiều chỉ từ bỏ thiên hướng này khi cuộc sống phủ định nguyện vọng của nàng.
Vận mệnh và tính cách có màu sắc bi kịch này quán xuyến nội dung tác phẩm: khắp Truyện Kiều phảng phất không khí buồn; quán xuyết kết cấu tác phẩm: trong hệ thống “Hội ngộ - Tai biến - Đoàn tụ” Nguyễn Du dành phần lớn tác phẩm để viết về quãng đời “Tai biến” của Kiều và trong toàn bộ tác phẩm, kể cả những giây phút đính ước, tình tự của phần “Hội ngộ”, hay trở về với người yêu trong phần “Đoàn tụ”, hạnh phúc của nàng không bao giờ trọn vẹn; quán xuyến hình tượng nhân vật: Thúy Kiều luôn luôn sống trong tâm trạng bi kịch.
Nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành, tài đàn tuyệt diệu và tài thơ mẫn tiệp của nàng rút cục cũng chỉ để “đem bán vào thuyền lái buôn”. Sự chà đạp lên tài hoa, nhan sắc con người là một tội ác của chế độ phong kiến, nhưng nếu quan niệm mâu thuẫn chủ yếu trong Truyện Kiều là mâu thuẫn giữa trí đức và tài năng với chế độ như ý kiến sau đây: “Mâu thuẫn giữa chế độ xã hội bất công với tài năng của con người là một mâu thuẫn tuyệt đối... Nguyễn Du đã diễn tả mâu thuẫn đó một cách hệ thống từ mở đầu Truyện Kiều cho đến cuối”.
... “bao giờ còn chế độ xã hội bất công, nhất là ở giai đoạn suy vong của chế độ này, tài hoa chỉ là một mối hận hết sức thê thảm. Đó là cảm hứng chủ đạo nhất, sâu sắc nhất, bi thiết nhất của Nguyễn Du”... có lẽ cũng có phần cần bàn bạc.
Bởi vì nổi bật trên tất cả kiến đoạn trường và nỗi đoạn trường là sự chà đạp lên hạnh phúc tình yêu và ước mơ công lí của người phụ nữ nhan sắc, tài hoa, đa sầu, đa cảm và hết sức vị tha này. Nói một cách khác, Nguyễn Du đặc biệt chú trọng trình bày, miêu tả mâu thuẫn sâu sắc giữa khát vọng hạnh phúc của con người bị áp bức với những thế lực xấu xa, tàn bạo của chế độ phong kiến.
“Giữa đường đứt gánh tương tư" - vì hạnh phúc gia đình, vì vận mệnh cha và em, Kiều hi sinh hạnh phúc cá nhân. Đó là lí tưởng đạo đức và cũng là một phương diện hạnh phúc của đời nàng (Cõi xuân tuổi hạc càng cao - Một vai gánh vác biết bao nhiêu cành... Thà ràng liều một thân con - Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây) nhưng vì đây chỉ là một phương diện của hạnh phúc iẻn Kiều tiếp tục đi vào một bi kịch khác. Thúy Kiều, con người của một thời lại đã có ý thức sâu sắc hơn, phong phú hơn về đau khổ cũng như về khát vọng của mình, không thể đơn giản chấp nhận chỉ một phương diện nào của hạnh phúc. Ngoài hạnh phúc gia đình, nàng còn sống với khát khao tình yêu tuổi trẻ. Ngoài tình thương cha mẹ, hai em, còn tình yêu với chàng Kim. Vì giữa cái tuổi mười sáu, với một nhan sắc khuynh thành, một tài hoa rực rỡ, một trái tim nồng nàn, nàng đã gặp Kim Trọng - chàng trai "phong tư tài mạo tuyệt vời”... Nói một cách khác, Thúy Kiều đã đối diện hạnh phúc. “Kể từ khi gặp chàng Kim” nàng đã sống trong hương vị ngây ngất ngọt ngào của giờ phút “Chập chờn cơn tỉnh cơn mê” ban đầu, của những sớm chiều tình tự “Đủ điều trung khúc ân cần - Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng”, và nhất là buổi hôm kì diệu:
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê…
Tiếng sen sẽ động giấc hòe,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần,
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng…
Buổi hôm kì diệu với tình yêu đắm đuối nồng nàn:
... Hoa hương càng tỏ thức hồng,
Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu...
Làm sao có thể chôn vùi trong tim đang độ sôi nổi mối tình đầu nên thơ sâu sắc ấy! Tai biến ập đến, Thúy Kiều đã đi theo con đường quen thuộc cửa những thiếu nữ gặp ngang trái trong tình duyên xưa kia:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Giống như Nhụy Châu đã nhờ cô thị nữ tin yêu thay mình trả nghĩa Song Tinh khi nàng bị gian thần hãm hại đem đi cống Phiên:
Mai sau chàng có về đây,
Duyên xưa tác hợp cậy mày thể tao.
(Truyện Song Tinh)
Và chữ “nghĩa” theo quan niệm phong kiến kia tưởng đâu sẽ là một bài thuốc hiệu nghiệm:
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Nhưng không, Kiều thấu hiểu rằng không ai có thể thay thế nàng trong trái tim yêu đương của chàng Kim, cho dù người đó là em gái mình đi chăng nữa.. Nàng tiếp tục rơi vào một bi kịch khác:
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Nàng vẫn là con người của bi kịch. Là bởi vì như nhiều người bình luận Truyện Kiều đã viết, trong mối quan hệ với chàng Kim, bao giờ Nguyễn Du cũng đành cho chị chữ “Tình” và cô em chữ “Duyên”:
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
Tình duyên ấy, hợp tan này,
Bi hoan mấy nỗi đêm chảy trăng cao.
Khi ăn ở, lúc ra vào,
Càng âu duyên mới, càng dào tình xưa.

III. Kết bài "Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch"

Cũng như các bè bạn cùng thế hệ, Thúy Kiều những mong đem chữ ‘‘Nghĩa” đền đáp người yêu, nhưng tự chiều sâu của đáy lòng, nàng hiểu rằng không bao giờ mối nhân duyên ấy có thể là hạnh phúc trọn vẹn của chàng Kim (Nỗi nàng nhớ đến bao giờ - Tuôn châu đòi trận, vò tơ trăm vòng; nghe tường ngành ngọn tiêu hao - Lòng riêng chàng luống lao đao thẫn thờ...). Và Kiều nữa, cho dù “Chân trời góc bể bơ vơ - Tấm son gột rửa bao giờ cho phai’’, chữ “Nghĩa” không hồn không thể giúp nàng “ngậm cười chín suối” như Kiều đã nói với Vân. 

Quý thầy cô giáo và các em học sinh có thể tham khảo đầy đủ tài liệu này và xem thêm các tài liệu khác trong bộ sưu tập Thúy Kiều, con người của hiện thực khổ đau, con người của vận mệnh bi kịch. Hoặc download về làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác dạy và học ngày càng hiệu quả. 

Đồng bộ tài khoản