Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Chia sẻ: An | Ngày: | 4 tài liệu

0
161
lượt xem
1
download
Xem 4 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Mô tả bộ sưu tập

Chúng tôi xin giới thiệu đến quý thầy cô giáo và các em học sinh bộ sưu tập Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nhằm hỗ trợ cho việc dạy và học môn Ngữ Văn trở nên hiệu quả hơn. Bộ sưu tập này gồm các tài liệu hay, chất lượng hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em học sinh và quý thầy cô giáo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Tóm tắt nội dung

Mời quý thầy cô giáo tham khảo phần trích dẫn nội dung trong bộ sưu tập Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng dưới đây:

Dù chỉ tồn tại trên cõi đời có 48 năm và đã đi xa chúng ta hơn nửa thế kỷ, nhưng bằng phong cách sống và những sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã khiến các nhà quản lý văn nghệ, đồng nghiệp văn chương và bằng hữu thực sự khâm phục.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6/5/1912, tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Cha là một ông Tú nghèo sống nhờ vợ tần tảo buôn bán. Bẩy tuổi cha mất, mẹ gửi ra Hải Phòng ở với gia đình người chị, học tiểu học ở trường Bonnal. Năm 1932, 20 tuổi, đậu bằng thành chung và cũng bắt đầu học chữ Hán. Sau ba năm vất vả tìm việc, đến 1935 thi đậu vào ngạch thư ký nhà đoan (cơ quan hải quan- tiếng Pháp: customs office). Năm 1939, cưới vợ con quan. Song song với đời sống công chức nhà đoan, Nguyễn Huy Tưởng có một sinh hoạt nội tâm phong phú, rất giàu cung bậc của người trí thức: chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng, hàng ngày viết nhật ký.

Từ năm 1938, Nguyễn Huy Tưởng đã hoạt động cho hội Truyền bá quốc ngữ. Cuối năm 1944, bắt đầu tham dự các buổi họp bí mật của hội Văn hoá cứu quốc. Tháng 4/1944, ông chuyển từ Hải Phòng lên Hà Nội công tác và được gặp các trí thức Hà thành như Nguyễn Xuân Huy, Như Phong, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân... Tháng 6/1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc. Sau đấy hai tháng, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào, Tuyên Quang. Ông còn là đại biểu Văn hóa cứu quốc, giúp biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong. Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới. Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc. Ông qua đời ngày 25/7/1960 tại Hà Nội, ở tuổi 48.

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị về văn chương và lịch sử như: Tiểu thuyết có Đêm hội Long Trì, (1942), An Tư công chúa (1944), Truyện Anh Lục (1955), Bốn năm sau (1959), Sống mãi với Thủ đô (1960)...; Kịch gồm có: Vũ Như Tô (1943). Cột đồng Mã Viện (1944), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), Anh Sơ đầu quân (tập kịch- 1949), Lũy hoa (1960)...; Truyện ký có: Ký sự Cao Lạng (1951), Chiến sĩ ca nô...; Truyện thiếu nhi: Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, Thằng Quấy, Con cóc là cậu ông giời, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung, Cô bé gan dạ... và một tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, dày 1.700 trang.
Với khoảng hơn hai năm cầm bút mà Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm khá lớn, những nghĩ văn nhân Việt không có mấy người được như ông. Ấy là chỉ nói về khía cạnh số lượng tác phẩm, còn về giá trị chẳng ai có thể tiên định được.

Tôi thực sự chia sẻ với nhận định của nhà nghiên cứu- phê bình văn học, Tiến sĩ Nguyên An khi ông cho rằng: Nếu không có Nguyễn Huy Tưởng thì văn đàn hiện đại Việt Nam, nhất là ở mảng lịch sử- truyền thống sẽ vơi đi sự bề thế, vẻ kỳ vĩ, tráng lệ và chất bi thương hào hùng, mặc dù cạnh ông đã có Tô Hoài, và sau ông, cũng đã có các tác giả đáng nể như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Bút Ngữ, Hà Ân, Nguyễn Quang Thân… Cũng theo Nguyên An, Nguyễn Huy Tưởng đã gánh việc mở đầu một cách đích đáng cho dòng văn chương viết về truyền thống, về lịch sử trung đại Việt Nam trong nền văn chương hiện đại Việt Nam.
Một số người cho rằng Nguyễn Huy Tưởng là người viết sử bằng văn. Riêng tôi lại nghĩ ngược lại, có lẽ ông đã viết văn bằng sử thì mới đúng. Bởi lẽ ở nhiều vở kịch, tiểu thuyết, bút ký, nhật ký... và đặc biệt là ở các vở kịch như Vũ Như Tô, Bắc Sơn, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, Sống mãi với Thủ đô... được coi là những dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tác văn chương của ông. Ở đấy chất văn và chất sử hòa quyện làm một, chẳng thể nào phân định rạch ròi được. Văn vì thế mà thăm thẳm sâu. Sử vì thế mà vời vợi cao. Những vấn đề mà ông đặt ra trong tác phẩm của mình cứ mãi xoáy sâu vào tâm thức người đời và sẽ còn vang vọng mãi tới xa sau.

Tuy khởi nghiệp từ văn chương, nhưng từ sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Huy Tưởng dường như vừa làm văn, vừa làm báo và làm lãnh đạo văn nghệ kháng chiến. Ngoài công tác tổ chức của Hội Văn hóa cứu quốc mà ông là thành viên chủ chốt, biên tập các báo Cờ giải phóng, Tiên phong, ông còn để lại tập bút ký Ký sự Cao Lạng, mang đậm chất báo chí. Trong nhật ký cá nhân, hai tác phẩm gồm vở kịch Vũ Như Tô và tập bút ký Ký sự Cao Lạng là ông tâm đắc nhất. Kịch Vũ Như Tô là một sáng tác văn chương từ đề tài lịch sử, còn Ký sự Cao Lạng gồm những tác phẩm báo chí. Hai tác phẩm một trước, một sau Cách mạng tháng Tám, đều vừa đem đến cho người đọc những thú vị bất ngờ của một nhà văn tài hoa, vừa hé lộ một nhân cách cao thượng mang tên Nguyễn Huy Tưởng. 

Vui lòng xem tiếp tài liệu hoặc xem thêm các tài liệu khác trong bộ sưu tập Thuyết minh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Ngoài ra, quý thầy cô giáo và các em học sinh còn có thể download về làm tài liệu tham khảo bằng cách đăng nhập vào Website eLib.vn.
Đồng bộ tài khoản