Tóm tắt lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN Sinh học 9

Chia sẻ: đinh Vi Vi Bé | Ngày: | 1 tài liệu

0
71
lượt xem
1
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Tóm tắt lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN Sinh học 9

Tóm tắt lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN Sinh học 9
Mô tả bộ sưu tập

Hãy đến với bộ sưu tập Tóm tắt lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN Sinh học 9, quý thầy cô giáo sẽ có thêm tài liệu để dạy học, các em học sinh có thể ôn tập hoặc mở rộng kiến thức của mình. Bộ sưu tập gồm các tài liệu hay và đạt chất lượng sẽ giúp các em học sinh nắm được các kiến thức cần thiết trong chương trình học ở trường phổ thông.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Tóm tắt lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN Sinh học 9

Tóm tắt lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN Sinh học 9
Tóm tắt nội dung

Bạn có thể tải miễn phí BST Lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN này về máy để tham khảo phục vụ việc giảng dạy hay học tập đạt hiệu quả hơn.

I. Lý thuyết về ARN
ARN (axit ribônuclêic) cũng như ADN thuộc loại axit nuclêic .Tuỳ theo chức năng mà các ARN được chia thành loại khác nhau như ARN thông tin (mARN), ARN vận chuyển (tARN), ARN ribôxôm (rARN), cụ thể là:
- MXRN có vai trò truyền đạt thông tin quy định cấu trúc cùa prôtêin cần tone hợp.
- T ARN có chức năng vận chuyển axit amin tương ứng tới nơi tổng hợp prôtêin.
- ARN là thành phần cấu tạo nên ribôxôm - nơi tổng hợp prôtêin.
- ARN cũng được cấu tạo từ các nguyên tốC, H, O, N và P thuộc loại đại phân tử nhưng có kích thước và khối lượng nhỏ hơn nhiều so với ADN. ARN được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân gồm hàng trăm, hàng nghìn đơn phân. Đơn phân cấu tạo nên ARN cũng là nuclêôtit gồm 4 loại là A (ađêmin), G (guanin), X (xitozin) và u (uraxin). Nhìn chung phân tử ARN khi mới được tổng hợp ở trong nhân tế bào cómô hình cấu trúc như hình 17.1
Bảng so sánh ARN và ADN
II. ARN được tổng hợp theo nguyên tắc nào?
- Nói chung, quá trình tổng hợp các loại ARN diễn ra trong nhân, tại các NST thuộc «- trang gian đang ở dạng sợi mảnh chua xoắn. Các loại ARN đều được tổng hợp dựa trên khuôn mẫu là ADN dưới tác động của enzim. Khi bắt đầu tổng hợp ARN, gen được tháo xoắn và tách dần 2 mạch đơn đồng thời các nuclêôtit trên mạch vừa được tách ra liên kết với các nuclêôtit tự do trong môi trường nội bào thành từng cặp để hình thành dẩn dần mạch ARN. Sự hình thành mạch ARN được thể hiện đơn giản hoá ở hình 17.2. Khi kết thúc, phân từ ARN được hình thành liền tách khỏi gen và sau đó rời nhân đi ra chất tế bào để thực hiện quá trình tổng hợp prôtêin. Phân tử ARN này được tổng hợp dựa trên khuôn mẫu là gen mang thông tin cấu trúc của một loại prôtêin được gọi là mARN. Quá trình tổng hợp tARN và rARN cũng theo nguyên tắc tương tự, nhưng sau khi được hình thành, mạch nucl ê ô tít sẽ tiếp tục hoàn thành phân tử tARN hay rARN hoàn chỉnh.
- Như vậy, quá trinh tổng hợp phân từ ARN dựa trên một mạch đem của gen với vai trò khuôn mẫu và sự liên kết giữa các nuclêôtit trên mạch khuôn với các nuclêôtit tự do của môi trường cũng diễn ra theo NTBS. trong đó A liên kết với u, T liên kết với A, G liên kết với X và X liên kết với G. Mạch ARN được tổng hợp có trình tự các nuclêôtit tương ứng với trình tự các nuclêôtit trên mạch khuôn nhưng theo NTBS, hay giống như trình tự các nuclêôtit trên mạch bổ sung với mạch khuôn, chi khác T được thay thế bằng u. Qua đó cho thấy trình tự các nuclêôtit trên mạch khuôn của gen quy định trình tự các nuclêôtit trong mạch ARN.

Chúc quý thầy cô và các em học sinh có được nguồn tư liệu Lý thuyết về Mối quan hệ giữa gen và ARN hay mà mình đang tìm.
Đồng bộ tài khoản