Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Chia sẻ: An | Ngày: | 1 tài liệu

0
373
lượt xem
19
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Văn mẫu chọn lọc để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Mô tả bộ sưu tập

Đến với BST Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du các em học sinh sẽ có cơ hội tìm hiểu các kiến thức về Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Thông qua BST này, Thư viện eLib hy vọng đây sẽ là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho quý thầy cô và các em học sinh.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST
Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Tóm tắt nội dung

Bộ sưu tập Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những BST đặc sắc của eLib, được chọn lọc từ hàng trăm mẫu tư liệu một cách kỹ lưỡng, mời các bạn tham khảo đoạn trích sau đây:

I. Mở bài vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Xưa nay, nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều, người ta thường hay chú ý trước hết đế những chỗ dùng từ chính xác, từ hay, tinh tế thường được gọi là lối dùng từ đắt của Nguyễn Du,cũng như cách dùng hư từ, khối lượng từ đồng nghĩa, từ có phong cách khẩu ngữ, từ mang phong vị ca dao, thành ngữ, tục ngữ...

II. Thân bài vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Ví như hai từ đầy đặn, nở nang trong câu thơ “ Khuôn trăng đầy đặn / Nét ngài nở nang” khi tác giả dùng để miêu tả Thuý Vân. Hai từ đó không chỉ đơn thuần là miêu tả khuôn mặt tròn trịa,đầy đặn như mặt trăng đêm rằm của nàng Vân, cũng như cả cái nét ngài minh bạch,rõ ràng, uốn cong thanh tú của nàng mà đó còn là sự đầy đặn, mỹ mãn của số phận, của cuộc đời nàng. Hai chữ thua, nhường trong câu thơ “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” dùng để chỉ thiên nhiên và cũng chính là tạo hoá sẽ chịu thua mái tóc mây, dài, xanh mượt, màu da trắng như tuyết để nhường bước cho nàng đi trên con đường bằng phẳng, không hề có chông gai.
Hay như chữ thông minh trong câu “Thông minh vốn sẵn tính trời” dùng để nhấn mạnh trí tuệ thiên bẩm của nàng Kiều mà nhiều người cho rằng đó là một nhãn tự nhờ cách nhà thơ đưa từ này lên đầu câu, nó không chỉ nhằm khắc hoạ một tính cách mà là cả một nhân cách. Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà - Một vẻ đẹp vừa rực rỡ, vừa hấp dẫn, rất có hồn. Nhưng Kiều chiếm được cảm tình nơi bạn đọc không phải vì cái vẻ sắc nước hương trời,cùng tài năng hiếm có cuả nàng, mà chủ yếu là phẩm cách tuyệt vời và một trí tuệ hơn người. Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần viết về tài hoa và trí tuệ theo kiểu ấy. Chẳng hạn như câu “Anh minh phát tiết ra ngoài” … Điều đó cho thấy ánh sáng trí tuệ chính là yếu tố nổi bật trong tài hoa của Thuý Kiều.
Còn như từ não trong câu “Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng từ não rất chính xác.Nội hàm ý nghĩa của từ này diễn đạt nỗi buồn đã có sẵn tự trong lòng. Nó không chỉ đơn thuần là sầu, buồn, là những từ diễn đạt nỗi buồn trên sắc diện con người mà là não (não lòng, não nuột). Âm thanh của từ ngữ này dường như xoáy sâu vào tâm can người đọc. Bởi lẽ, khúc nhạc tiêu tao của thiên bạc mệnh ấy đã từng khiến cho biết bao người rung cảm, sầu não theo từng khúc nhạc não nề. Nó đã từng khiến cho Kim Trọng nao nao lòng người, Thúc Sinh phải tan nát lòng và cho cả trái tim vô tình, sắt đá của quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến cũng phải cảm thương mà rơi châu nhỏ lệ. Cung đàn bạc mệnh của Kiều đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thể hiện tâm hồn đa sầu, đa cảm và số phận bi thương của Kiều là vì thế. Cả câu “Não người cữ gió tuần mưa” thì từ não cũng được dùng với ý nghĩa như vậy.
Nhiều người cho rằng, Nguyễn Du sử dụng từ ngữ rất đắt. Đắt vì nhiều khi chỉ một chữ thôi đã có thể lột tả được bản chất bên trong của con người. Đó là trường hợp câu thơ “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” mà nhà thơ dùng để khắc hoạ nhân vật Mã Giám Sinh lúc đến hỏi Kiều về làm vợ. Một kẻ đã ngoài tứ tuần mà Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao thì thật nực cười và kỳ cục đến không thể chấp nhận được. Bởi nhẵn nhụi là từ ngữ người ta thường dùng để chỉ độ trơn, bóng, láng của đồ vật, chứ không phải dùng để chỉ tính chất trang nhã, lịch sự của con người. Còn từ bảnh bao thường dùng để khen trẻ em có quần áo đẹp lại dùng cho Mã Giám Sinh thì lại có ý chế giễu, mỉa mai. Một kẻ đã nhiều tuổi nhưng lại cố ý tô vẻ, tỉa tót thì lại trở nên kệch cỡm, giả tạo và có phần trai lơ, đàng điếm.
Đặc sắc nhất vẫn là cách dùng từ trong câu “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” - một cử chỉ vội vàng, khiếm nhã khiến Nguyễn Du phải hạ ngay một từ sỗ sàng. Cử chỉ ấy không phù hợp với một người đi hỏi vợ và lại càng không đúng với phẩm cách văn hoá của một Giám Sinh. Nó quá bất ngờ so với sự chờ đợi của người đọc, quá phi lý so với vai trò của một sinh viên trường Quốc Tử Giám. Cử chỉ này là tín hiệu đầu tiên để bước đầu khẳng định bản chất của Mã Giám Sinh. Tự định vị một cách vô lễ, trịch thượng, chướng mắt trên chiếc ghế của người bề trên ( những bậc cao niên ) càng cho thấy tính chất vô học và nhất là tâm lý hợm cúa của kẻ buôn người giàu có. Chỉ một chữ tót đã phủ nhận vai trò giám sinh của gã họ Mã.
Như thế cũng chưa đủ. Cái cách cò kè thêm bớt đến cả một giờ lâu rồi mới ngã giá vàng ngoài bốn trăm thì Nguyễn Du đã lột tả được bộ mặt gớm ghiếc, giả dối của Mã Giám Sinh. Hắn đã hiện nguyên hình là một gã con buôn lọc lõi chỉ cần biết một điều là làm sao mua được món hàng với giá hời nhất, chỉ cần một vốn mà có đến bốn lời là được. Chỉ với một từ cò kè rất con buôn, Nguyễn Du đã cho ta thấy được bộ mặt tàn ác, dơ bẩn nhất của bọn buôn thịt bán người mà Mã Giám Sinh là đại diện.
Và trong đoạn đời đầu tiên của bước lưu lạc, lúc Kiều được đưa ra ở lầu Ngưng Bích, nàng đã sống trong một tâm trạng buồn tủi, chua xót đến cực độ. Nàng đâu còn cơ hội khoá kín tuổi xuân của mình nữa. Nàng không còn giữ được chữ trinh đối với chàng Kim thì hai chữ khoá xuân lại đầy mỉa mai đối với nàng. Thực chất nàng đang bị Tú Bà giam lỏng để chờ ngày kén chồng tử tế, nhưng thực ra là mụ đang rắp tâm thực hiện một âm mưu mới.
Trong cảnh vò võ cô đơn, trơ trọi nàng đã tưởng nhớ đến người yêu. Chỉ một từ tưởng mà nói được bao điều. Nếu mơ là luôn nghĩ đến những kỉ niệm, những điều tốt đẹp về nhau ; hay nhớ cũng là nghĩ đến những điều tốt đẹp nhưng lại có thêm ý mong mỏi có ngày gặp lại thì tưởng cũng là mơ là nhớ nhưng với Kiều chỉ là tưởng, chỉ xem mối tình đầu trong trắng, ngây thơ của mình là một kỉ niệm đẹp, không dám mơ tưởng những gì xa xôi lại càng không dám mong gì ngày gặp lại.
Nhớ người yêu, Kiều cũng rất nhớ về cha mẹ. Nhưng Nguyễn Du không dùng thương hay nhớ mà lại dùng một chữ xót ở đầu câu thơ. Bởi xót đâu chỉ đơn thuần là nhớ, là thương mà còn bao hàm cả nỗi giận đời và trách mình.
Ngay cả việc sử dụng điệp ngữ buồn trông ở cuối đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích ta càng thấy Nguyễn Du không hề vô tình khi đặt chữ buồn đứng trước chữ trông.Buồn mà trông,buồn rồi mới trông là nỗi buồn thấm sâu tự đáy lòng Kiều để rồi trông vào mọi vật nàng chỉ thấy thấp thoáng mơ hồ, tàn tạ, héo uá như chính cuộc đời của nàng cùng với nỗi lo sợ hãi hùng về một tương lai mờ mịt. Thật đúng là “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Đọc Truyện Kiều ta còn bắt gặp được nhiều câu thơ, nhiều từ ngữ đặc sắc như thế. Chữ cậy em và chữ chịu lời trong câu 723 dùng thật khéo. Cụ Nguyễn Du dùng chữ cậy là tuyệt hay vì nếu thay chữ nhờ và chữ nghe lời vào thì câu thơ sẽ là Nhờ em em có nghe lời thành ra quá áp đặt, câu thơ trở nên tầm thường, nhạt nhẻo, không còn ý vị gì nữa. Vì điều Kiều sắp nói cho em biết thuộc về chữ tình nên chưa chắc em đã nhận lời cho. Do vậy, dùng cậy và chịu lời là hợp lý nhất. 

ELib mong BST Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ giúp cho các em có thêm nguồn tư liệu tham khảo.

Đồng bộ tài khoản