Bí quyết giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Chia sẻ: Phạm Thị Thu Hằng | Ngày: | 5 tài liệu

1
1.240
lượt xem
145
download
Xem 5 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Bí quyết giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Mô tả BST Bí quyết giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng không kém việc truyền đạt kiến thức sách vở cho học sinh. Kỹ năng sống giúp cho học sinh biết tự lập, tránh được những điều không hay, những tác động không tích cực từ xã hội và môi trường sống. Chính vì thế, giáo dục học sinh kỹ năng sống là điều cần thiết trong trường tiểu học. Chính vì vậy, Thư viện eLib đã sưu tầm và tuyển chọn các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong bộ sưu tập cùng tên Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nhằm giúp quý thầy cô giáo tiện lợi trong việc tham khảo các tài liệu hữu ích. Các tài liệu trong bộ sưu tập này sẽ giúp các thầy cô giáo có phương pháp giúp các em học sinh tiểu học rèn luyện kỹ năng sống.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Hiện nay , chúng ta vẫn thường hay nói đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh , giáo dục kỹ năng sống tức là không chỉ dạy cho học sinh kiến thức mà là giáo dục toàn diện về đức, trí , thể, mỹ, giúp các em biết ứng xử có văn hóa, biết cách xử lý những tình huống xảy ra trong cuộc sống. Hạn chế của giáo dục hiện nay là mới chủ yếu dạy chữ, chưa thật sự quan tâm đến dạy người một cách toàn diện. Các gia đình coi điểm các bộ môn là thước đo của sự tiến bộ của con cái, tạo thành sức ép buộc học sinh chỉ nghĩ đến chuyện phải học để có điểm cao. Các trường học cũng đã tích cực triển khai phong trào thi đua “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhưng cũng còn dập khuôn, máy móc . Nhiều gia đình chưa thực sự quan tâm, cùng với nhà trường giáo dục con cái cũng là nguyên nhân của tình trạng trên. Giáo dục kỹ năng sống, góp phần xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh cho học sinh là trách nhiệm và cần có sự phối hợp chặt chẽ của gia đình, nhà trường, và của toàn xã hội. Căn cứ vào tình hình thực tế hiện nay , tôi đã đưa ra 1 số phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học như sau : Hiện nay, đa số học sinh sống trong hai môi trường có hoàn cảnh khác nhau: một là các em được sự quan tâm chăm sóc quá sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; hai là những em sống trong gia đình với nhiều lo toan cho cuộc mưu sinh, phụ huynh bỏ mặc con cái. Môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại thường cùng mang đến cho các em một thiếu sót lớn trong từng bước trưởng thành, đó là kĩ năng sống. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học qua học tập – sinh hoạt ở trường là điều hết sức cần thiết. Theo đó, bằng trách nhiệm, bằng kinh nghiệm và vốn sống của mình, giáo viên cần từng bước một giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua từng bài dạy, thông qua các hoạt động ở trường, ở lớp. Qua từng tiết dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh kĩ năng làm việc theo nhóm: biết cách phân công công việc, lắng nghe ý kiến người khác, tranh luận, biết chấp nhận đúng sai, thống nhất ý kiến, thực hiện đúng ý kiến đã thống nhất… Đây là kĩ năng hết sức cần thiết khi các em trưởng thành, làm việc trong tập thể. Ở môn kĩ thuật, giáo viên cần giáo dục kĩ năng tự phục vụ bởi ở gia đình, các em thường được cha mẹ, người giúp việc làm thay hoặc không có thời gian gần gũi để hướng dẫn. Thầy cô cần cho học sinh thấy rằng việc khâu may, nấu cơm, luộc rau, lắp ráp mạch điện đơn giản… hết sức cần thiết cho bản thân các em vì chẳng những có thể phụ giúp cha mẹ khi bận hoặc bệnh mà còn là hành trang khi các em đi học xa nhà sau này không có người chăm lo. Trong các bài khoa học, chúng ta có thể hướng dẫn, tập dần cho các em kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định như nói không với thuốc lá, ma túy, rượu… dứt khoát với những lời dụ dỗ, lôi kéo vào những thói hư tật xấu. Ở môn đạo đức, giáo viên rất dễ dàng nâng cao kĩ năng giao tiếp - tự nhận thức như kính trọng, biết ơn ông bà, cha mẹ, thầy cô, thương binh - liệt sĩ, những người lao động… bằng những hành vi, thái độ, việc làm nho nhỏ hằng ngày. Các em biết quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị; biết giúp đỡ người già, em nhỏ, bạn bè; biết xác định các giá trị hành vi đạo đức. Tùy từng bài học, chúng ta giáo dục các kĩ năng phù hợp cho các em. Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua học tập – sinh hoạt ở nhà trường là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều đó, giáo viên cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt quá trình giảng dạy. Tổ chức lớp cũng nên đổi mới. Lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó cần thay đổi theo từng tháng để từng học sinh biết được các công việc của người lãnh đạo, các khó khăn gặp phải và xử lý ra sao… Đồng thời biết thông cảm với công việc của người chỉ huy. Qua đó rèn cho các em những kĩ năng chỉ huy - lãnh đạo cần thiết. Trong sinh hoạt hằng ngày, giáo viên cần chú ý nâng dần kĩ năng giao tiếp - tự nhận thức cho các em như biết sử dụng đúng các quy tắc: chào hỏi, xin phép, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu… Biết cảm thông cảm chia sẻ buồn vui với mọi người. Giáo viên cũng có thể tập dần cho các em kĩ năng đặt mục tiêu từ những việc nhỏ như thói quen dậy sớm tập thể dục, đi học đúng giờ, phụ mẹ việc nhà, giữ lời hứa với mọi người… Thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng cần được thông tin đến phụ huynh để phụ huynh thấy được tầm quan trọng của kĩ năng sống đối với con em mình, cùng với giáo viên thực hiện, theo dõi, ủng hộ động viên các em. Nếu được sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh thì việc thực hiện sẽ dễ dàng thành công hơn.

 

CÁC KĨ NĂNG SỐNG CẦN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người. Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kỹ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kỹ năng tổ chức. Đôi khi kỹ năng sống, nhưng không phải luôn luôn, khác biệt với các kỹ năng nghiệp vụ (trong nghề nghiệp). Cũng theo WHO, kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy, với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết. Tại Việt Nam, kỹ năng sống đang được quan tâm, tuy nhiên trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kỹ năng học tập và chính trị, còn việc giáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm nhiều. Theo chuyên viên tâm lý Huỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần Ý tưởng Việt: "Hiện nay, thuật ngữ kỹ năng sống được sử dụng khá phổ biến nhưng có phần bị "lạm dụng" khi chính những người huấn luyện hay tổ chức và các bậc cha mẹ cũng chưa thật hiểu gì về nó". Trong những năm trở lại đây, khi Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” được triển khai và hưởng ứng mạnh mẽ trong các cấp học, ngoài việc nâng cao chất lượng giáo dục, các đơn vị trường học ngày càng chú trọng tới công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, đặc biệt là học sinh phổ thông. Mục tiêu giáo dục là nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN. Yêu cầu về nội dung giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho HS có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con TaiLieu.VN Page 1 người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật. Tuy nhiên, nội dung giáo dục trong các nhà trường tiểu học hiện nay còn xem trọng việc dạy chữ, chưa chú trọng đúng mức dạy làm người, nhất là việc giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho HS. 2. Kỹ năng là gì? KN là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Kỹ năng sống là gì? KNS là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người. KNS bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người. KNS có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người. Vì sao phải rèn luyện KNS cho học sinh? Khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào phục vụ cho cuộc sống đều đòi hỏi chúng ta phải thỏa mãn những kỹ năng tương ứng. Rèn luyện KNS cho HS là nhằm giúp các em rèn luyện KN ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và KN làm việc theo nhóm, KN hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Đối với HS tiểu học việc hình thành các KN cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này. 3. Phân loại kỹ năng sống: - KNS được chia thành 2 loại: Kỹ năng cơ bản và kỹ năng nâng cao. + KN cơ bản gồm: Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy, nhảy v.v… + KN nâng cao là sự kế thừa và phát triển các KN cơ bản dưới một dạng thức mới hơn. Nó bao gồm: Các KN tư duy logic, sáng tạo, suy nghĩ nhiều chiều, phân tích, tổng hợp, so sánh, nêu khái niệm, đặt câu hỏi v.v… Ở tiểu học, đối với các lớp đầu cấp, KN cơ bản được xem trọng, còn các lớp cuối cấp nâng dần cho các em về KN nâng cao. Theo đó, chúng ta cần tập trung rèn luyện cho các em 2 nhóm KN sống sau đây: Nhóm KN giao tiếp – hòa nhập cuộc sống: TaiLieu.VN Page 2 - Các em biết giới thiệu về bản thân, về gia đình, về trường lớp học và bạn bè thầy cô giáo. - Biết chào hỏi lễ phép trong nhà trường, ở nhà và ở nơi công cộng. - Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi. Thực tế trong nhà trường, thông qua môn Đạo đức, các hoạt động tập thể HS được dạy cách lễ phép nhưng khi đi vào thực tế, nhiều em thiếu kỹ năng giao tiếp, không có thói quen chào hỏi, tự giới thiệu mình với người khác, thậm chí có nhiều em còn không dám nói hoặc không biết nói lời xin lỗi khi các em làm sai. - Biết phân biệt hành vi đúng sai, phòng tránh tai nạn. Đây là KN quan trọng mà không phải em nào cũng xử lý được nếu chúng ta không rèn luyện thường ngày. Nhóm KN trong học tập, lao động – vui chơi giải trí: - Các KN nghe, đọc, nói, viết, KN quan sát, KN đưa ra ý kiến chia sẻ trong nhóm. - KN giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung. - KN kiểm soát tình cảm – KN kìm chế thói hư tật xấu sở thích cá nhân có hại cho bản thân và người khác. - KN hoạt động nhóm trong học tập vui chơi và lao động. 4. Một số biện pháp rèn luyện KNS cho học sinh tiểu học - Thực tế các KN này được đưa vào mục tiêu cụ thể từng môn học, bài học mà tập trung nhiều nhất là môn Đạo đức và Tiếng Việt. Để có hiệu quả cao, chúng ta cần tổ chức tốt các biện pháp sau: + Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo của học sinh gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học, luôn tạo cho các em tính chủ động, tích cực, hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được bầu không khí cởi mở thân thiện của lớp của trường. Trong giờ học, giáo viên cần tạo cơ hội cho các em được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần tích lũy KNS cho các em. + Quán triệt mục tiêu giảng dạy môn Đạo đức, nhất là hình thành các hành vi đạo đức ở tiết 2. GVCN làm tốt công tác kiểm tra đánh giá phân loại hạnh kiểm của HS, rèn cho học sinh khả năng tự học, tự chăm sóc bản thân, biết lễ phép, hiếu thảo, tự phục vụ bữa ăn và vệ sinh cá nhân. TaiLieu.VN Page 3 + Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa, “diễn đàn” ở phạm vi lớp khối của mình. Mỗi năm học sẽ có một số chủ đề rèn luyện KNS được triển khai. Trong đó nhà trường cần phát huy vai trò của tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh và Sao nhi đồng theo các chủ điểm hàng tháng. Đưa trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn luyện KNS cho HS. + GVCN phải làm tốt công tác chủ nhiệm mà nhà trường phân công, thường xuyên thay đổi các hình thức sinh hoạt lớp, luân phiên nhau cho các em làm lớp trưởng, tổ trưởng, không nên trong năm học chỉ để một em làm lớp trưởng. Với học sinh tiểu học, thầy cô giáo là người mẹ hiền thứ hai của các em, các em luôn luôn nghe lời dạy bảo và làm theo những gì thầy cô dạy, thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về đạo đức, nhất là tấm gương về các ứng xử văn hóa, chuẩn mực trong lời nói và việc làm. Giáo dục KNS cho HS sẽ khó hơn khi chính thầy cô không phải là một tấm gương. + Nhà trường cần tổ chức tốt các buổi chào cờ đầu tuần. Theo đó mục tiêu buổi chào cờ không chỉ là đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục trong tuần qua, triển khai kế hoạch tuần tới của BGH nhà trường mà cần thay đổi hình thức buổi lễ chào cờ một cách sáng tạo, rèn luyện các kỹ năng cho học sinh. Chẳng hạn như để các em được thay mặt lớp trực đánh giá, nhận xét thêm phần giao lưu với toàn trường qua các tiết mục văn nghệ, kể chuyện, câu đố, trò chơi… do chính các em đứng ra tổ chức dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của GVCN. + Xây dựng trường, lớp xanh-sạch-đẹp-an toàn. Trong đó cần chú trọng tạo môi trường tự nhiên gần gũi với cuộc sống như trồng vườn cây thuốc nam, các câu khẩu hiệu ở các cây xanh, bồn hoa để thông qua đó mà giáo dục ý thức BVMT ở các em. Ngoài ra, nhà trường cần phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường để cùng góp phần giáo dục KNS cho các em. + Tổ chức các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, các cuộc thi bằng các hình thức như Rung chuông vàng, Đối mặt, Đường lên đỉnh...; Hàng năm các nhà trường tổ chức cho các em tham quan, dã ngoại, du lịch như cha ông ta đã nói: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. - Dạy KNS cho tuổi trẻ học đường trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp thiết ở các trường phổ thông nói chung, bậc tiểu học nói riêng. Trong lúc nội dung về rèn luyện KNS chưa được đưa vào thành một chương trình riêng mà chủ yếu được giáo viên lồng ghép trong từng bộ môn như giáo dục Đạo đức, Tiếng Việt… hay trong các tiết chào cờ đầu tuần. Với thời lượng hạn hẹp như vậy, các em chưa được trang bị đầy đủ các KNS. Đó là TaiLieu.VN Page 4 điều đang còn khó khăn, lúng túng cho các nhà trường nhằm rèn luyện KNS cho HS. Một trong những mục tiêu được chú trọng trong năm học 2009-2010 mà Bộ GD-ĐT yêu cầu là tăng cường giảng dạy KNS cho HS tiểu học. Mong rằng các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, các nhà quản lý giáo dục quan tâm và thực hiện tốt nội dung này. Tuy nhiên, làm thế nào để triển khai hoạt động rèn KNS một cách hiệu quả thu hút được học sinh và các bậc phụ huynh đang là trăn trở của các thầy cô giáo, các nhà trường và toàn xã hội hiện nay. Tùy vào hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, nhà trường mà tổ chức sao cho sáng tạo và hiệu quả. TaiLieu.VN Page 5

 

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HSTH QUA CÁC MÔN HỌC I. Một số vấn đề chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống qua các môn học ở tiểu học. 1. Khái niệm về kỹ năng sống: Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. 2. Mục tiêu: - Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ, kỹ năng phù hợp . + Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. KNS giúp HS có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày. + KNS giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành. - Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức - Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đồng thời có sự thống nhất cao việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học trong toàn cấp học; trang bị cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp các em có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước tình huống cuộc sống. - Giúp GV soạn và dạy được KNS cho học sinh TH. 3. Yêu cầu: - Việc bố trí sắp xếp bàn ghế trong phòng học, vị trí trưng bày sản phẩm của học sinh…. - Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học, các loại phiếu học tâp sử dụng cho các hoạt động trong giờ học. 1 - Giáo viên mạnh dạn, tích cực trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy học phù hợp… - Tạo được sự thân thiện, hợp tác, các giao tiếp ứng xử trong giờ học giữa giáo viên và học sinh, học sinh và học sinh, động viên, tạo cơ hôị cho mọi đối tượng học sinh cùng tham gia Ngoài việc GDKNS cho HS TH thông qua các kĩ thuật dạy học, tổ chức các hoạt động GDNGLL, phối hợp với gia đình, PGD&ĐT chỉ đạo các lớp đưa nội dung GDKNS vào dạy trong tiết SHTT(1 tiết/2 tuần, bắt đầu từ tuần đầu tiên của tháng 12/2011). Nhà trường cần phải rà soát lại thực trạng của trường mình, về hạn chế và hướng giải quyết để có thể tổ chức tốt việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sau đó căn cứ vào chương trình khung của PGD, xây dựng chương trình cụ thể cho đơn vị. Tùy theo hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, từng trường để triển khai GDKNS cho thật hiệu quả. Các trường cũng cần phải xây dựng được quy tắc ứng xử văn hóa. Thầy cô giáo, cán bộ, phụ huynh phải gương mẫu. Bên cạnh đó, cần tạo được môi trường thân thiện, gia đình thân thiện, cộng đồng thân thiện. Ngoài ra, việc đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” cũng là giải pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho học sinh. II. Nội dung và địa chỉ giáo dục kỹ năng sống qua một số môn học như Tiếng Việt, Đạo đức, TN & XH: 1. Môn Tiếng Việt: a/ Khả năng GD KNS qua môn Tiếng Việt: Môn TV là một trong những môn học ở cấp tiểu học có khả năng GD KNS khá cao, hầu hết các bài học đều có thể tích hợp GD KNS cho HS ở những mức độ nhất định. Số lượng phân môn nhiều Thời gian dành cho môn học chiếm tỉ lệ cao Các bài học trong các phân môn đều có khả năng giáo dục KNS cho học sinh b/ Mục tiêu và nội dung sống qua môn Tiếng Việt: - Giúp HS bước đầu hình thành và rèn luyện các KNS cần thiết, phù hợp lứa tuổi; nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận, đánh giá đúng về bản 2 thân; biết ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ; biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. - Nội dung GD KNS được thể hiện ở tất cả các nội dung học tập của môn học. - Những KNS chủ yếu đó là: KN giao tiếp; KN tự nhận thức; KN suy nghĩ sáng tạo; KN ra quyết định; KN làm chủ bản thân. c/ Các yêu cầu cần thiết phải đưa GD KNS váo môn Tiếng Việt: - Xuất phát từ Thực tế cuộc sống: sự phát triển của KHKT, sự hội nhập, giao lưu, những yêu cầu và thách thức mới của cuộc sống hiện đại - Xuất phát từ mục tiêu GDTH: GD con người toàn diện - Xuất phát từ đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học - Xuất phát từ thực tế dạy học Tiếng việt: cung cấp KT và KN sử dụng Tiếng việt thông qua thực hành ( hành dụng) d/ Các loại KNS : * KN cơ bản : gồm kỹ năng đơn lẻ và kỷ năng tổng hợp * KN đặc thù : + KN nghề nghiệp + KN chuyên biệt e/ NỘI DUNG GD KNS TRONG MÔN T.VIỆT - KNS đặc thù, thể hiện ưu thế của môn TV : KN giao tiếp - KN nhận thức (gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết định,...) là những KN mà môn TV cũng có ưu thế vì đối tượng của môn học này là công cụ của tư duy. - Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... giữa các thành viên trong xã hội. Gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), ký mã (phát thông tin) qua : nghe, nói và đọc, viết. - Các KNS này của HS được hình thành, phát triển dần, từ những KN đơn lẻ đến những KN tổng hợp. 2. Môn Đạo đức: + Đạo đức GD cho HS bước đầu biết sống và ứng xử phù hợp với các chuẩn mực biến nhận thức thành hành vi chuẩn mực thể hiện thông qua kĩ năng sống. 3 MỤC TIÊU GD KNS CHO HS QUA MÔN ĐẠO ĐỨC Con Công dân ngoan Trò giỏi tốt + Bước đầu trang bị cho HS các KNS cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. + Hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực. + Phát triển khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh. + Rèn cho học sinh biết cách tự phục vụ bản thân và vệ sinh cá nhân, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường. + Rèn cho học sinh biết cách giao tiếp và ứng xử phù hợp và linh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. + Hướng dẫn học sinh biết cách phối hợp công việc của từng cá nhân khi làm việc đồng đội. + KNS giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành + Biết sống tích cực, chủ động + Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức. Trong các chương trình giáo dục kĩ năng sống cho HSTH , người ta nhắc đến những nhóm kỹ năng sống sau đây: a)Nhóm kĩ năng nhận thức: - Nhận thức bản thân. - Xây dựng kế hoạch. - Kĩ năng học và tự học - Tư duy tích cực và tư duy sáng tạo. - Giải quyết vấn đề b) Nhóm kĩ năng xã hội: - Kĩ năng giao tiếp . 4 - Kĩ năng thuyết trình và nói được đám đông. - Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi. - Kĩ năng làm việc nhóm (làm việc đồng đội) c) Nhóm kĩ năng quản lý bản thân: - Kĩ năng làm chủ. - Quản lý thời gian - Giải trí lành mạnh d)Nhóm kĩ năng xã hội: - Kĩ năng quan sát. - Kĩ năng làm việc nhóm. - Kĩ năng lãnh đạo (làm thủ lĩnh). đ)Nhóm kĩ năng giao tiếp - Xác định đối tượng giao tiếp - Xác định nội dung và hình thức giao tiếp e)Nhóm kĩ năng phòng chống bạo lực: - Phòng chống xâm hại thân thể. - Phòng chống bạo lực học đường. - Phòng chống bạo lực gia đình. - Tránh tác động xấu từ bạn bè. Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ sở từ việc quan sát tranh, từ một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó, sau đó rút ra bài học. Từ bài học đó các em liên hệ thực tế xung quanh, bản thân, gia đình và xã hội và môi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là GV viên cố gắng trong phạm vi có thể khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn cụ thể, rõ ràng, nhằm khắc sâu những kĩ năng sống đã có sẵn trong từng bài học và những kĩ năng sống chúng ta lồng ghép trong quá trình soạn –giảng. c. Môn Khoa học: 3. Địa chỉ giáo dục kĩ năng sống trong môn khoa học: 5 a) Lớp 4: + Có 21 địa chỉ. + Trong đó có 5 địa chỉ đã soạn sẵn theo mẫu: ~ Bài 13: Phòng bệnh béo phì. ~ Bài 14: Phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa ~ Bài 39-40: Không khí bị ô nhiễm. Bảo vệ bầu không khí trong sạch. ~ Bài 65: Quan hệ thức ăn trong tự nhiên. ~ Bài 66: Chuỗi thức ăn trong tự nhiên. b) Lớp 5: + Có 26 địa chỉ. + Trong đó có 5 địa chỉ đã soạn sẵn theo mẫu: ~ Bài 9-10: Thực hành nói “không” với các chất gây nghiện ~ Bài 18: Phòng tránh bị xâm hại. ~ Bài 42-43: Sử dụng năng lượng chất đốt (2 tiết) ~ Bài 48: An toàn và tránh lãng phí khi sử dụng điện ~ Bài 66: Tác động của con người đến môi trường đất 4. Cách soạn và trình bày: a) Bài soạn và cách thức: - Ở khối Bốn soạn bài: “Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm” - Ở khối Năm soạn bài: “Phòng bệnh sốt xuất huyết” - Nếu thấy hợp lý, có thể gộp 2 bài lại để soạn. Ví dụ: Ở lớp Bốn: Có thể gộp 2 bài để soạn như bài: “Nước bị ô nhiễm. Nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm” b) Tiến trình dạy học: * Có 4 bước chính: + Khám phá: HS đã biết gì, chưa biết gì về vấn đề đưa ra? 6 Ví dụ: Các em hãy cho biết vì sao nước bị ô nhiễm? HS trả lời: … Dựa vào sự hiểu biết của HS, GV dẫn vào bài mới: Để biết vì sao nươc bị ô nhiễm, thầy cùng các em đi tìm hiểu qua bài: nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm…. + Kết nối: Kết nối nội dung mới của bài. Giải quyết tất cả những kiến thức mới. + Thực hành: Đưa ra những tình huống, những nội dung, những trò chơi để vận dụng kiến thức đó. + Vận dụng: Tùy ở từng hoàn cảnh từng em, chúng ta có bài vận dụng (các em nắm được thông tin nào về bài học). * Tóm lại: Qua 1 tiến trình, đảm bảo giáo dục được KNS. * Thống nhất quan điểm khi soạn bài: Quan điểm của Bộ giáo dục: Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng cho rằng + Đây là 1 tài liệu cho giáo viên tham khảo. + Giáo viên là người hoạt đông thực tiễn, biết được giá trị quyển sách này là gì? Có thể dùng từ này, không dùng từ này. + Có ma trận: Nhiều địa chỉ tăng cường các kĩ năng sống, không cứng quá, có thể tìm 1 địa chỉ khác. Đây là những bài minh họa, không phải nhất thiết tuân theo. + Càng ngày, việc chỉ đạo dạy học linh hoạt, phát huy tính độc lập, sáng tạo của các thầy cô. Các thầy cô thích làm gì thì làm, dạy phương pháp gia không biết miễn là khi đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng đạt là được.(Tránh lệch chuẩn KTKN) III. Các phương pháp và kỹ thuật tích hợp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống vào môn học: 1. Sự khác biệt giữa dạy các môn học (VD: Đạo đức) với GDKNS: Chương trình giáo dục môn Đạo đức ở cấp tiểu học có một số nội dung trùng hợp với nội dung của giáo dục kỹ năng sống. Tuy nhiên, mục đích và phương pháp dạy các môn này không giống nhau hoàn toàn. Ví dụ: Trong chương trình môn Đạo đức lớp 1, tuần 19 có bài: “Lễ phép, vâng lời thầy cô giáo”. Trong dạy kỹ năng sống, không có khái niệm “vâng lời”, chỉ có khái niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm, chứ không đặt mục đích “rèn nếp” hay “nghe lời”. Công dân toàn cầu là người biết suy nghĩ 7 bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định có làm điều này hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ không tạo ra lớp công dân “chỉ biết nghe lời”. Đây là sự khác biệt cơ bản của việc giáo dục kỹ năng sống với các môn học khác (như môn Đạo đức). 2. PPDH – Kỹ thuật dạy học: Cũng như các môn học khác, GDKNS cũng sử dụng các PPDH tích cực như: . PPDH theo nhóm . PP giải quyết vấn đề . PP đóng vai . PP trò chơi… Kỹ thuật dạy học: . Kỹ thuật chia nhóm . Kỹ thuật đặt câu hỏi . Kỹ thuật khăn trải bàn . Kỹ thuật trình bày 1 phút . Kỹ thuật bản đồ tư duy IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC MÔN HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 1. Gần gũi và tạo mối thân thiện với học sinh 2. Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả bản thân đã vận dụng vào các môn học, tiết học, nhất là các môn như: Tiếng Việt; Đạo đức; Khoa học; An toàn giao thông .... để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải nghiệm như trong cuộc sống thực. Trong chương trình môn Tiếng Việt có nhiều bài học có thể giáo dục kĩ năng sống cho các em, đó là các kĩ năng giao tiếp xã hội, như: Viết thư, Điền vào giấy tờ in sẵn, Giới thiệu địa phương, Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia,... được lồng cụ thể 8 qua các tình huống giao tiếp. Bản thân chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt. Để hình thành những kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt, người giáo viên cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như Ở môn Đạo đức, để các chuẩn mực đạo đức, pháp luật xã hội trở thành tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của học sinh. Cần sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực , học sinh sẽ được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm nhiều kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đó là lối sống lành mạnh, các hành vi ứng xử phù hợp với nền văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn gàng, ngăn nắp, nói lời đẹp, chăm sóc bố mẹ, ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ với bạn… Ở môn Khoa học: Chương “Con người và sức khỏe”các bài: “Con người cần gì để sống? Vai trò của các chất dinh dưỡng có trong thức ăn; Phòng một số bệnh do thiếu chất dinh dưỡng; Phòng bệnh béo phì; Phòng tránh tai nạn đuối nước;...” giáo dục các em hiểu rằng ăn uống đủ chất và hợp lí giúp cho chúng ta khoẻ mạnh, biết phòng tránh một số bệnh lây qua đường tiêu hóa, biết những việc nên làm và không nên làm để phòng tránh tai nạn đuối nước, có ý thức tự giác làm vệ sinh cá nhân hằng ngày, tự giác thực hiện nếp sống vệ sinh, khắc phục những hành vi có hại cho sức khoẻ. Biết tham gia các hoạt động và nghỉ ngơi một cách hợp lí để có sức khoẻ tốt. **************************************************************** 9

 

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 1 Trong trường học, việc giáo dục kỹ năng sống và rèn luyện sức khỏe cho học sinh (HS) là một vấn đề hết sức cần thiết, nó góp phần hình thành nhân cách cho các em. Một trong những môn học dễ lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống và rèn luyện sức khỏe cho HS là môn tự nhiên - xã hội. Thực tế cho thấy, khi xã hội càng phát triển thì cha mẹ có rất ít thời gian chăm sóc con cái hoặc có xu hướng trái ngược là quan tâm thái quá, cái gì cũng muốn làm thay cho trẻ. Đối với HS lớp 1, các em chưa biết tự chăm sóc và tự bảo vệ bản thân mình. Các em chưa biết cách ứng xử, nhất là khi gặp những trường hợp có thể gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của bản thân như đứt tay chảy máu, bị phỏng khi ở nhà. Lúng túng khi gặp các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra trên đường đi học, đi chơi một mình mà nguyên nhân bắt nguồn từ việc trẻ thiếu kỹ năng sống. Những khó khăn và biện pháp khắc phục Do thiếu kỹ năng sống và chưa có ý thức bảo vệ sức khỏe nên các em cần phải có sự giúp đỡ của người lớn và thầy cô giáo. Chương trình tự nhiên - xã hội có nhiều điểm mới nên ngoài việc được cung cấp kiến thức cơ bản, HS lớp 1 phải được giáo dục cách phòng ngừa tai nạn ảnh hưởng đến tính mạng và cách bảo vệ sức khỏe bản thân. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy môn tự nhiên - xã hội chưa thực sự được phụ huynh và các em HS quan tâm đúng mức. Trong giờ học các em còn lúng túng trong việc quan sát kênh hình của SGK, chưa nêu được nội dung bài học qua hệ thống câu hỏi gợi ý của giáo viên. Mặc dù trong tiết học thầy cô đã tổ chức nhiều hình thức hoạt động, thế nhưng các em không chú ý nghe giảng, còn thụ động và trình bày không thoát ý. Đây chính là những khó khăn mà giáo viên thường mắc phải. Theo chúng tôi, giáo dục kỹ năng sống phải gắn với hoạt động học tập và nội dung bài học, vì nhiều HS học giỏi nhưng chưa có khả năng tư vấn, tự chủ. Giáo dục kỹ năng là dạy cho các em kỹ năng quan sát, nhận xét, giao tiếp và biết áp dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Thông qua đó các em thêm tự tin, linh hoạt, chủ động và biết ứng phó với những tình huống nguy hiểm có thể xảy ra. Giáo viên cần lựa chọn các hình thức phù hợp, sắp xếp các tình huống sao cho tất cả HS trong lớp đều được tham gia thực hành. Đặt ra cho HS các nhiệm vụ học tập tương ứng với nội dung dạy học. Mỗi câu hỏi đặt ra phải hướng đến mục đích rèn luyện. Giáo dục kỹ năng phải phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đơn giản vừa sức và đồng loạt. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra xem HS đã vận dụng kiến thức đã học đến mức độ nào để có phương pháp điều chỉnh thích hợp. Liên hệ thực tế từ bài dạy Theo đó, giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy để lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Hệ thống câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, định hướng cho HS nhận xét các hiện tượng sự vật từ đó biết cách xử lý những tình huống đơn giản trong cuộc sống. Ví dụ: Sau khi học bài Trời nóng trời rét, các em sẽ nhận biết chính xác về thời tiết và có cách ăn mặc phù hợp hơn. Hay thông qua các trò chơi trên lớp, các em sẽ biết việc nào nên làm và việc nào không nên làm để từ đó lựa chọn cách ứng xử phù hợp. Điều quan trọng là giáo viên cần chú ý liên hệ thực tế trong bài dạy, biết tìm tòi, cập nhật những thông tin liên quan nhằm giúp các em phòng tránh nguy cơ bệnh tật: bệnh cúm gà (bài Con gà), bệnh sốt rét, sốt xuất huyết (bài Con muỗi); phòng tránh nguy hiểm: gọi cứu hỏa (bài An toàn khi ở nhà), gọi cấp cứu (bài Bảo vệ mắt và tai)… Giáo viên phải xây dựng thói quen tự quan sát, nhận xét tình huống xảy ra trong thực tế cuộc sống cho HS ngay từ đầu năm học. Mỗi tiết dạy phải theo quy trình đã thiết kế, xây dựng mối quan hệ giữa bài học và cuộc sống, thu hút HS vào các hoạt động cụ thể, giúp các em tích lũy vốn sống và biết cách tự điều chỉnh bản thân. Xây dựng mối liên hệ giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, giữa bài học và cuộc sống thực tế sinh động gần gũi với lứa tuổi HS tiểu học. Giúp các em khắc sâu kiến thức qua những thước phim đẹp do giáo viên sưu tầm được.

 

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG TRONG NHÀ TRƯỜNG Dù ở thời đại nào, xã hội nào, kỹ năng sống vẫn luôn là bí quyết giúp con người thích ứng với môi trường sống, đặc biệt là trong xã hội đương đại, với nhịp sống quay cuồng cùng với sự cạnh tranh khốc liệt. Nhằm giúp giới trẻ hình thành ý thức về sự cần thiết phải rèn luyện kỹ năng sống, ngành Giáo dục đang dần dần chú trọng quan tâm nhiều hơn đến việc giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Lâu nay, mỗi khi nói đến các mục tiêu của việc học, người ta thường nêu là để hiểu biết và để làm người. Dần dà khi xã hội ngày càng phát triển, thì mục tiêu học để cùng chung sống bắt đầu được quan tâm, với thuật ngữ giáo dục kỹ năng sống được nhắc đến thường xuyên hơn. Kỹ năng sống được giới thiệu trong nhà trường để giảng dạy cho học sinh, bao gồm: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng lập mục tiêu…v.v… Có một vấn đề đang được xã hội đặc biệt quan tâm đó là việc sinh viên ra trường thường bị chê là thiếu kỹ năng sống. Vậy, thực tế thì việc giảng dạy kỹ năng sống trong học đường hiện nay ra sao?Tình hình chung ở các trường phổ thông hiện nay là phần lớn thời gian dạy và học đều dành hết cho các môn chính khóa, còn kỹ năng sống thường ít được quan tâm, có chăng là đưa vào lồng ghép với hoạt động khác, thường gọi là sinh hoạt ngoại khóa, hay hoạt động ngoài giờ lên lớp, và thường thì ít nhiều có tính hình thức, làm chiếu lệ. Tìm hiểu tình hình giáo dục kỹ năng sống ở một trường trung học cơ sở, chúng tôi được biết mấy năm gần đây có những chuyển biến tốt so với trước kia, nhất là từ khi có cuộc vận động tham gia phong trào “ trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Nhà trường chú trọng tố chức nhiều hơn các hoạt động ngoại khóa. Nhiều trò chơi dân gian đang có nguy cơ bị mai một dần, có được đất sống. Giờ chơi ở sân trường nhộn nhịp hẳn lên với các trò chơi đá cầu, đánh đũa, nhảy dây, múa sạp…Học sinh được quan tâm tạo điều kiện tốt nhất sao cho “ Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”. Đi đôi với việc tăng cường tổ chức các hoạt động vui chơi cho học sinh, các trường nói chung đều chú trọng nhiều hơn đến việc hướng các em tham gia các hoạt động xã hội, tìm hiểu thêm về quê hương , đất nước, con người, tham gia cứu trợ đồng bào bị thiên tai, giúp đỡ trẻ em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. So với các trường trung học cơ sở thì công tác giáo dục kỹ năng sống ở các trường trung học phổ thông có phần khó hơn. Ở độ tuổi 15-17, các em dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài, và có ảnh hưởng ngay đến tâm tư tình cảm, sinh hoạt, học tập của chính bản thân mình. Các em cũng dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu và có nguy cơ sa đà vào các tệ nạn xã hội đang len lõi vào học đường.Cả 3 môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội đều chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nhiều phụ huynh chỉ quan tâm khuyên con chăm chỉ học tập để thi đỗ vào đại học, không muốn con em tham gia sinh hoạt xã hội, sợ mất thời gian, ảnh hưởng đến học tập. Ở nhà trường, chỉ coi trọng môn lý thuyết để thi cử, còn các môn như: Giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng, thể dục, công nghệ… thường bị coi nhẹ. Các hoạt động ngoại khóa cũng bị tinh giản hoặc bỏ qua. Trong thời gian gần đây, đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động xây dựng “ trường học thân thiện, học sinh tích cực”, các trường trung học phổ thông cũng coi đây là một giải pháp khả thi để tiến hành giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Những trường mà do đặc điểm lịch sử trước đây có chất lượng tuyển sinh đầu vào khá thấp luôn phải đương đầu với vấn nạn bỏ học nửa chừng, vấn nạn bạo lực học đường … thì giờ đây tình hình có phần nào khả quan hơn. Học sinh có vẻ chăm chỉ và siêng năng hơn trong học tập, tích cực rèn luyện bản thân thành những con người năng động, tự tin. Đa phần các em đều có ý thức được việc học hôm nay sẽ là hành trang quan trọng cho bước đường lập thân lập nghiệp sau này. Ở các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện, thị, thành, chuyện giáo dục kỹ năng sống cho học viên cũng còn lắm nhiêu khê. Trong chương trình học chính thức không hề có nội dung giảng dạy về kỹ năng sống. Nhiều nơi có sáng kiến kết hợp lồng ghép việc giáo dục kỹ năng nghề, nội dung giáo dục hướng nghiệp để rèn luyện kỹ năng sống cho học viên. Tuy nhiên có những lớp học mở vào ban đêm học vào các buổi tối trong tuần thì các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cũng chưa biết xoay sở thế nào để bố trí dạy các chuyên đề về kỹ năng sống cho học viên của mình. Kỹ năng sống có ảnh hưởng lớn đến việc học tập, sinh hoạt, lao động, làm việc của mỗi người. Vì thế việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần phải được quan tâm hơn nữa. Chính bản thân mỗi học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng phải tích cực rèn luyện kỹ năng sống để sau này có cuộc sống tốt đẹp hơn, có tương lai tươi sáng hơn./.

 

Đồng bộ tài khoản