Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015

Chia sẻ: Lê Thị Thao Thao | Ngày: | 1 đề thi

0
71
lượt xem
3
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
   Like fanpage Thư viện Đề thi Kiểm tra để cùng chia sẻ kinh nghiệm làm bài
Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015

Mô tả BST Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015

Dưới đây là bộ Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015 nhằm giúp các em học sinh có tài liệu ôn tập để nắm vững hơn những kiến thức, kĩ năng cơ bản, đồng thời vận dụng kiến thức để giải các bài tập qua các dạng đề thi một cách thuận lợi.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
Xem Giáo viên khác thảo luận gì về BST

Tóm tắt Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015

Bộ sưu tập Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015 là một trong những BST đặc sắc của eLib, được chọn lọc từ hàng trăm mẫu tư liệu một cách kỹ lưỡng, mời các bạn tham khảo đoạn trích sau đây:

Câu 1 (2 điểm)

Những mùa quả mẹ tôi hái được
Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng.
Những mùa quả lặn rồi lại mọc
Như mặt trời, khi như mặt trăng.

(Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm)

1. Nghĩa của từ “trông” ở dòng thơ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng là gì?
2. Trong hai dòng thơ Những mùa quả lặn rồi lại mọc// Như mặt trời, khi như mặt trăng”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Hãy nêu tác dụng của biện pháp so sánh đó.
3. Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì?
Câu 2 (3 điểm)
“Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất mùi hương”
Suy nghĩ của anh/chị về câu nói trên.
Câu 3 (5 điểm)
Phân tích nghệ thuật trào phúng trong chương XV “Hạnh phúc của một tang gia”
(Trích tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng).

Thư viện eLib mong BST Đề KSCL môn Ngữ văn lớp 11 (lần 4) trường THPT Yên Lạc 2 năm 2014-2015 sẽ giúp cho các em có thêm nguồn tư liệu hữu ích.
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LẦN 4 TRƯỜNG THPT NĂM HỌC: 2014-2015 YÊN LẠC 2 MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11 Thời gian làm bài 150 phút (không kể thời gian giao đề) Câu 1 (2 điểm) Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng. Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng. (Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm) 1. Nghĩa của từ “trông” ở dòng thơ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng là gì? 2. Trong hai dòng thơ Những mùa quả lặn rồi lại mọc// Như mặt trời, khi như mặt trăng”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Hãy nêu tác dụng của biện pháp so sánh đó. 3. Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì? Câu 2 (3 điểm) “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất mùi hương” Suy nghĩ của anh/chị về câu nói trên. Câu 3 (5 điểm) Phân tích nghệ thuật trào phúng trong chương XV “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng). .................................HẾT................................. (Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm) ĐÁP ÁN Câ Ý Nội dung Điểm u 1 1 - Ý nghĩa của từ “trông” trong dòng thơ “Mẹ vẫn trông vào tay 0,5 mẹ vun trồng” thể hiện sự mong chờ, trông đợi, niềm tin và hi vọng của mẹ vào những gì mà mẹ đã vất vả, cực nhọc chăm sóc, vun trồng. Các con chính là sự trông chờ của mẹ, thành công của các con chính là thứ “quả” mà mẹ mong chờ nhất. 2 - So sánh: Những mùa quả mọc rồi lại lặn như mặt trời, mặt 0,5 trăng. Mặt trăng, mặt trời mọc và lặn theo quy luật của tự nhiên, gợi lên hình ảnh của thời gian tuần hoàn, nối tiếp. Câu thơ gợi lên hình ảnh mẹ vẫn bao năm tần tảo sớm hôm chăm sóc cho vườn quả, cho các con mà không quản nhọc nhằn. 3 Người mẹ hiện lên với hình ảnh lam lũ, tần tảo, vất vả nhưng 0,5 vẫn lạc quan. Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là yêu thương, kính trọng. 0,5 2 “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất mùi hương” 1 I. Mở bài 0,25 - Ý nghĩa nhân văn của cuộc sống. - Giới thiệu câu nói cần luận bàn. 2 II. Thân bài 0,25 Giải thích - Câu nói trên đề cập đến một vấn đề rất hiện thực của cuộc sống: khi bàn tay con người tặng những bông hồng thơm ngát cho người khác thì chính bàn tay ấy cũng đã nhận được một phần hương thơm từ hoa hồng. - Từ vấn đề mang tính hiện thực đó, câu nói muốn bàn tới một 0,25 vấn đề sâu xa hơn, có ý nghĩa đối với cuộc sống của con người. Đó là sự “nhận” trong lúc “cho” của cuộc sống. Đây là một cách nói đầy hình ảnh với cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu thương chân thành, vẻ đẹp của tấm lòng vị tha. Khi con người biết yêu thương người khác bằng sự chân thành chính là làm đẹp cho tâm hồn và cuộc sống; khi đó chúng ta sẽ được nhận. => Câu nói muốn gửi gắm đến chúng ta một thông điệp: phải 0,25 sống bằng lòng vị tha, phải biết sống vì người khác, sống cho người khác. Đó cũng chính là cách để sống cho bản thân mình. 3 Biểu hiện 0,25 - Những bông hoa hồng do bàn tay của con người sống vị tha sẽ tô điểm, làm đẹp cho cuộc sống. Đó là những bông hồng không kiêu sa, giản dị nhưng ngát hương. Nó có thể là hàng động dắt một em nhỏ qua đường, nhường chỗ cho một cụ già trên xe bus…những hành động tuy nhỏ nhưng nó lại làm cho cuộc sống nở hoa. Ta đem đến hạnh phúc cho người khác đồng thời chúng ta cũng nhận được hạnh phúc từ họ với những cái nhìn biết ơn, quý trọng, với những lời cảm ơn chân thành… - Có khi những bông hồng được dệt lên từ sự hi sinh cao cả: sự 0,25 hi sinh của mẹ dành cho con, sự hi sinh của những người chiến sĩ vì đất nước, vì nhân dân. 4 Bình luận, chứng minh 0,25 - Trong cuộc sống, mỗi con người luôn tìm kiếm những con đường để đi đến hạnh phúc của bản thân mình. Và có lẽ con đường giản đơn nhất nhưng sâu sắc và ý nghĩa nhất chính là mang hạnh phúc, niềm vui, sự sẻ chia đến cho những người xung quanh. Đó là một lối sống vị tha của con người, một nét đẹp nhân văn đáng được ca ngợi. Nó giúp cho người bị vẫp ngã có cơ hội để sửa chữa và nhìn nhận lại chính mình, giúp họ có thêm nghị lực và niềm tin để sống tốt hơn. - Sống vì người khác, đem đến hạnh phúc cho người khác cũng 0,25 chính là cách đem đến hạnh phúc cho bản thân mình. Đó là sự yêu thương, kính trọng của mọi người. Cách sống làm tâm hồn thanh thản và nhẹ nhõm. - Nhưng không phải bàn tay nào cũng biết trao tặng hoa hồng. 0,25 Không thiếu những kẻ ích kỉ trong cuộc sống này chỉ biết nhận mà không biết cho. Đó cũng là một lối sống hưởng thụ của một bộ phận thanh niên hiện nay. Và có lẽ những kẻ đó suốt đời sẽ không có, không hiểu được thế nào là hạnh phúc đích thực, thế nào là niềm vui khi được chia sẻ với người khác. Những bàn tay đó sẽ không bao giờ phảng phất hương thơm của “hoa hồng”. 5 Bài học nhận thức và hành động - Nhận thức được mối quan hệ giữa cho và nhận trong cuộc 0,25 sống. Khi chúng ta cho đi một thứ mà người khác cần chính là chúng ta đã cho đi yêu thương. Trao yêu thương, sẻ chia với người khác, chúng ta sẽ nhận lại tình yêu thương, sự kính trọng từ họ. - Hãy quan tâm, sẻ chia với mọi người xung quanh từ bằng 0,25 những hành động và việc làm nhỏ bé nhưng thiết thực nhất bởi “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.  Hãy sống để bàn tay ta luôn ngát hương hoa hồng. 6 III. Kết bài 0,25 - Khẳng định ý nghĩa của câu nói. - Mỗi chúng ta hãy sống để yêu thương, để cho đi và được nhận lại. Hãy sống để “khi bạn qua đời, mọi người khóc, còn bạn, bạn cười”. 3 Nghệ thuật trào phúng trong chương “Hạnh phúc của một tang gia” 1 I. Mở bài: Khái quát về tác giả, tác phẩm 0,25 - Tác giả: Tác gia trào phúng bậc thầy của nền VHVN. Chỉ trong năm 1936 ông đã viết ba tiểu thuyết trào phúng. Ông đoản mệnh trong đời nhưng trường thọ, trường cửu trong nghệ thuật. - Tác phẩm: Một vở đại hài kịch có thể làm vinh dự cho mọi 0,5 nền văn học. Tác phẩm thể hiện niềm căm phẫn của tác giả với hiện thực xã hội đương thời. - Trích đoạn: thuộc chương thứ 15 của tác phẩm thể hiện nghệ thuật trào phúng bậc thầy của VTT. 2 II. Thân bài: Đặc điểm chung của nghệ thuật trào phúng. 0,5 - Phát hiện được mâu thuẫn mang tính trào phúng: nội dung và hình thức, bên ngoài và bên trong. Mâu thuẫn đem lại tiếng cười mang ý nghĩa xã hội. - Sử dụng thủ pháp cường điệu, phóng đại làm nổi bật mâu 0,25 thuẫn trào phúng. 3 Mâu thuẫn trào phúng thể hiện ngay trong nhan đề. Hạnh phúc 0,5 gợi lên sự vui vẻ- tang gia gợi lên nước mắt: Độ vênh của hai khái niệm gợi sự phi lí, ngược đời. Cả xã hội suy đồi, bại vong về văn hoá và đạo đức => Bộ mặt tráo trở, vô nghĩa lí của xã hội tiểu tư sản thành thị. 4 Cảnh tượng (tình huống) trào phúng. 0,5 - Đám ma cụ cố Tổ với vẻ bề ngoài là một đám ma to tát nhưng thực chất đó là sự loè bịp vĩ đại. Qua tấm kính chiếu yêu, VTP lật tẩy bộ mặt của những con người trong gia đình ấy. 5 Nghệ thuật xây dựng chân dung những nhân vật biếm hoạ. 0,5 - Trong gia đình: Cụ cố Hồng, Văn Minh, Phán mọc sừng, cậu tú Tân, cô Tuyết... 6 - Nhân vật ngoài gia đình: Bạn bè cụ cố Hồng, Sư cụ Tăng Phú, 0,5 cảnh sát. 7 Dựng cảnh: Cận cảnh, viễn cảnh 0,5 - Cảnh nhà có đám: bối rối, nhộn nhịp. - Cảnh đưa đám: linh đình, huyên náo (vòng hoa, câu đối). Điệp khúc đám cứ đi thể hiện sự chuyển động của dòng người đưa đám; sự xuống dốc, tha hoá của đạo đức xã hội. Ở đây, rất nhiều thứ phải khâm liệm. - Cảnh hạ huyệt: Kịch tính lên đến đỉnh điểm, cao độ trong giờ phút sinh li tiễn biệt với hai nhân vật cậu Tú Tân và ông PMS. 8 Ngôn ngữ trào phúng. 0,5 - Câu văn trào phúng. - Sáng tạo những chi tiết, hình ảnh so sánh, liên hệ, tạt ngang bất ngờ để tạo ra tiếng cười. - Tên nhân vật: TYPN, lang Tì, lang Phế, lang Vị (tên của các vị thuốc). - Ngôn ngữ giễu nhại: tiếng khóc cảu ông PMS. - Ngôn ngữ lai căng nửa ta, nửa tây: Jodep Thiết, Typn. 9 III. Kết luận 0,5 - Đánh giá chung về nghệ thuật trào phúng trong trích đoạn.

 

Đồng bộ tài khoản