Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học

Chia sẻ: Phạm Thị Thu Hằng | Ngày: | 5 tài liệu

0
1.397
lượt xem
79
download
Xem 5 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học

Mô tả BST Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học

Không thể phủ nhận hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống trong giáo dục tiểu học. Tuy nhiên, yêu cầu về việc giảng dạy tiểu học ngày càng nâng lên đòi hỏi một phương pháp giảng dạy phù hợp hơn để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức. Nhằm giúp quý thầy cô giáo có thêm tài liệu tham khảo các phương pháp dạy mới, chúng tôi xin cung cấp bộ sưu tập Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học đã được chọn lọc kỹ càng. Bao gồm nhiều tài liệu về phương pháp dạy tiểu học như: Đổi mới phương pháp dạy học, Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học, Các phương pháp dạy học ở tiểu học, ... Mời quý thầy cô giáo tham khảo để tìm ra cho mình phương pháp giảng dạy phù hợp nhất.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC: LÀM SAO ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC HIỆU QUẢ CAO NHẤT? Đổi mới phương pháp dạy học không phải là phủ nhận các phương pháp dạy học truyền thống. điều quan trọng là người dạy phải biết kết hợp sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh. sau đây là một số kinh nghiệm của Th.S Lê Thị Ngọc Điệp – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1, TP.HCM trong việc tổ chức hoạt động theo nhóm, tổ chức tiết học ngoài trời, tiết học tại bảo tàng, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học… Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh là một trong những đặc điểm lớn nhất của phương pháp dạy học ở bậc tiểu học. Đổi mới phương pháp dạy học không phải là phủ nhận các phương pháp dạy học truyền thống trước đây. Điều quan trọng ở đây là đòi hỏi người dạy phải biết kết hợp sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh. Trong chương trình tiểu học, nội dung bài dạy từng bộ môn có sự phát triển theo hướng đồng tâm, do đó có những nội dung được lặp lại nhưng được nâng cao và mở rộng hơn. Giáo viên cần có sự lựa chọn thích hợp về phương pháp giảng dạy và hình thức tổ chức lớp thì tiết học mới sinh động và thu hút học sinh. Để thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần nắm vững những mục tiêu của từng môn học, có khả năng phân tích chương trình, nắm vững nội dung bài dạy và phương pháp giảng dạy cơ bản, đặc biệt phải nắm bắt được từng đối tượng học sinh để thiết kế các hoạt động phù hợp, vừa sức. Hoạt động theo nhóm Tùy nội dung bài dạy, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhóm để phát hiện kiến thức mới. Với nhóm của mình, các em sẽ bộc lộ suy nghĩ một cách tự nhiên. Từ những phát hiện của trẻ, đôi lúc giúp giáo viên nhận ra những điều rất mới mẻ mà mình chưa từng nghĩ đến. Chẳng hạn trong giờ tập làm văn nói, một học sinh đã miêu tả: “Đôi mắt của cô giáo tựa như mắt cá heo”. Cô giáo rất bất ngờ và hơi giận cậu học trò của mình. Tuy nhiên, cô vẫn TaiLieu.VN Page 1 bình tĩnh và hỏi: “Vì sao con nói mắt cô giống mắt cá heo?”. Cậu học trò hồn nhiên trả lời: “Hôm trước nhà trường tổ chức đi xem xiếc cá heo, con thấy mắt cá heo rất dễ thương và vui lắm, lúc nào cũng ướt và như muốn cười, mắt của cô cũng vậy”. Làm sao cô giáo có thể giận được lời ví von dễ thương như vậy. Với hình thức hoạt động theo nhóm, học sinh dễ gần gũi và có tinh thần đoàn kết rất cao. Giáo viên phải nhạy bén và giáo dục học sinh kịp thời, tạo điều kiện để các em thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Tổ chức tiết học ngoài trời Có nhiều giáo viên rất ngại khi đưa học sinh ra khỏi lớp học, bởi thầy cô giáo sợ các em “bung” quá trớn, mất trật tự. Thật sai lầm khi lo ngại điều này! Nếu giáo viên thường xuyên tổ chức lớp học ngoài trời thì các em sẽ có thói quen hoạt động theo nhóm và phát triển khả năng thích nghi với tự nhiên rất nhanh. Chỉ cần một khoảnh sân nhỏ, một bóng cây râm mát cũng đủ để giáo viên tổ chức thành một vòng tròn hoặc một hình chữ U cho cả thầy và trò. Trường chúng tôi nằm cạnh thảo cầm viên nên học sinh thường xuyên được vào học tại đây. Các em rất thích thú với cảnh vật nơi này. Nào là gấu, sư tử, vượn, công, chim trĩ,..; nào là cây mới trồng, cây lâu năm, cây cảnh, cây cho bóng mát… cô không cần giảng nhiều, các em được nhìn tận mắt, sờ tận tay và bài học cứ thế mà đi vào tâm trí trẻ một cách tự nhiên và nằm thật sâu ở đấy. Tổ chức tiết học tại bảo tang Ngoài thảo cầm viên, bảo tàng là điểm đến thứ hai của học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đối với môn lịch sử, khi dạy đến những bài có nội dung liên quan đến những di tích lịch sử, chúng tôi tổ chức cho học sinh đến các bảo tàng. Chẳng hạn, học sinh được đến Bến Nhà Rồng để học bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước”, đến Bảo tàng Chiến dịch Hồ Chí Minh và Dinh Thống Nhất (trước đây gọi là Dinh Độc Lập) để học bài “Tiến vào Dinh Độc Lập”,… Tại những nơi này, lời thuyết minh của hướng dẫn viên, những thước phim sống động cùng với những kỷ vật được trưng bày dường như đã “lấn áp” lời giảng của thầy cô. Giờ lịch sử không còn khô khan, tẻ nhạt. Thầy cô không cần “giáo dục tư tưởng” mà học trò vẫn cảm nhận được điều gì đó thật thiêng liêng, cao cả và thật tự hào. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học TaiLieu.VN Page 2 Máy tính hiện nay được xem như một dụng cụ trực quan, phục vụ đắc lực trong việc giảng dạy các môn học trong nhà trường. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đang được thực hiện khá phổ biến tại các trường phổ thông. Quận 1 hiện có khoảng 10 trường tiểu học thực hiện khá thành công công việc tổ chức tiết học phòng truyền thông đa phương tiện (Multimedia). Có một số nơi, chỉ cần một máy vi tính, một projector, một ti vi hay một màn hình bằng vải cũng có thể thực hiện được tiết dạy một cách hấp dẫn, đầy sức thuyết phục. Để giáo viên thực hiện được tiết dạy trên phòng máy, nhà trường đã mở lớp phổ cập tin học cho giáo viên và hướng dẫn giáo viên soạn giáo án điện tử. Bên cạnh đó, nhà trường còn tạo điều kiện để giáo viên tin học hỗ trợ việc thiết kế giáo án điện tử cho giáo viên lên lớp tại phòng Multimedia. Có nhiều điều mà lời giảng của thầy không thể nào diễn tả được một cách chính xác, chẳng hạn như tiếng cọp gầm, tiếng sư tử rống, tiếng vượn hú hay cảnh cá mập săn mồi,… cho dù các em có đứng ở thảo cầm viên nhưng chưa chắc gì sẽ được nghe, được thấy nếu như không tham quan đúng lúc các con vật này đang hoạt động. Ấy vậy mà chỉ cần một đoạn phim ngắn và lời dẫn của giáo viên thì tất cả như đang nín thở để theo dõi bước chân của những con thú đang rình mồi, như đang say sưa với từng tiếng lạ tai của đám thú rừng. TaiLieu.VN Page 3

 

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TẬP ĐỌC TIỂU HỌC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TẬP ĐỌC TIỂU HỌC PPDH là hoạt động dạy của Thầy và học của trò trong sự phối hợp thống nhất, đồng thời có sự kết hợp của phương tiện dạy học và hình thức tổ chức hoạt động của học sinh. Trên cơ sở nắm vững nội dung, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp một cách một cách nhuẫn nhuyễn để kích thích mọi hoạt động của học sinh. PHẦN LÝ THUYẾT: I. Phương pháp dạy học là gì? PPDH là hoạt động dạy của Thầy và học của trò trong sự phối hợp thống nhất, đồng thời có sự kết hợp của phương tiện dạy học và hình thức tổ chức hoạt động của học sinh. Trên cơ sở nắm vững nội dung, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp một cách một cách nhuẫn nhuyễn để kích thích mọi hoạt động của học sinh. II. Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học: Đổi mới PPDH là đưa các PPDH mới vào nhà trường trên cơ sở kế thừa và phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục và đào tạo. III. Phương pháp dạy Tập đọc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học: 1. Các phương pháp dạy Tập đọc: a. Phương pháp phân tích mẫu: Dưới sự hướng dẫn của GV, học sinh phân tích các vật liệu mẫu (văn bản) để hình thành các kiến thức văn học, các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Từ những hiện tượng chứa đựng trong các văn bản, GV giúp HS phân tích theo các nhiệm vụ đã nêu trong SGK để các em hiểu bài. Để HS phân tích được mẫu dễ dàng, GV có thể tách các câu hỏi, các công việc trong SGK ra thành những câu hỏi, nhiệm vụ nhỏ hơn. Về hình thức tổ chức tuỳ từng bài, từng nhiệm vụ cụ thể, GV có thể cho HS làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, sau đó trình bày kết quả phân tích trước lớp. TaiLieu.VN Page 1 2/ Phương pháp trực quan : Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát các tranh minh hoạ trong các bài tập đọc, các vật mẫu giúp các em hiểu thêm một số chi tiết, tình huống và nhân vật trong bài. 3/ Phương pháp thực hành giao tiếp: GV tổ chức các hoạt động trong giờ học sao cho mỗi HS trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc đồng thanh, theo nhóm, cá nhân…) được trao đổi nhận thức của mình với thầy cô, bạn bè. 4/ Phương pháp cá thể hoá sản phẩm của học sinh: Giáo viên chú ý đến từng học sinh, tôn trọng những phát hiện và ý kiến riêng của từng em. Thận trọng khi đánh giá học sinh, tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện và sửa chữa lỗi diễn đạt. 5/ Phương pháp cùng tham gia. Giáo viên tổ chức cho học sinh cùng cộng tác thực hiện nhiệm vụ học tập, cùng tham gia các trò chơi luyện đọc nhằm hình thành kiến thức, rèn kĩ năng và phát triển khả năng làm việc với cộng đồng. Các hình thức phổ biến để thực hiện, cùng tham gia luyện đọc và trao đổi theo nhóm, đóng vai, thi đua. 6/ Một số kĩ thuật dạy học rèn kĩ năng sống: 6.1 Đọc sáng tạo. Học sinh đọc diễn cảm. hay đọc theo phân vai có sáng tạo trong giọng đọc, cách đọc. Khi đọc học sinh kết hợp tìm từ, ý của câu, đoạn bài. 6.2 Thảo luận nhóm Dùng để thảo luận một vấn đề khó, hay đóng vai đọc bài. Có nhiều hình thức chia nhóm như đã học trong kĩ năng sống. 6.3 Hỏi đáp trước lớp Học sinh hỏi và bạn trả lời. theo gợi ý của giáo viên. 6.4 Đóng vai xử lý tình huống. Giáo vên nêu tình huống học sinh phân vai đóng để xử lí tình huống đó. 6.5 Tự bộc lộ TaiLieu.VN Page 2 Theo gợi ý của GV học sinh tự bộc lộ suy nghĩ của mình cho cả lớp biết về một vấn đề nào đó liên quan đến bài học. 6.6 Gợi tìm Học sinh tự tìm kiếm những vấn đề do giáo viên yêu cầu. Như từ khó, câu khó, nội dung bài… IV. Các biện pháp dạy Tập đọc: a. Đọc mẫu của GV: - Đọc toàn bài: nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế đọc cho HS. GV căn cứ vào trình độ của HS lớp mình có thể đọc 1 hoặc 2 lần tuỳ mục đích đặt ra. - Đọc câu, đoạn: nhằm minh hoạ, hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để HS nhận xét, giải thích tự tìm ra cách đọc… (có thể đọc một vài lần trong quá trình dạy học). - Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa lỗi phát âm và rèn cách đọc đúng cho HS. b. Hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của từ và nội dung bài: b.1. Tìm hiểu nghĩa của từ: Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa là những từ khó đối với HS được chú giải sau bài đọc, từ ngữ phổ thông mà HS địa phương mình chưa quen, từ ngữ đóng vai trò chìa khoá để hiểu nội dung bài đọc. Những từ ngữ còn lại, nếu HS nào chưa hiểu, GV giải thích riêng cho HS đó hoặc tạo điều kiện để HS khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra giải thích chung cho cả lớp. b.2 . Cách hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa: - Đọc phần giải nghĩa trong SGK (thông thường). - Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ cần giải nghĩa (Có thể phối hợp động tác, cử chỉ. VD: Vòng vèo: GV có thể dùng tay uốn lượn) - Sử dụng hiện vật, tranh vẽ, mô hình … - Tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải nghĩa - Đặt câu với từ cần giải nghĩa: cần lưu ý là phải giới hạn việc giải nghĩa từ trong phạm vi nghĩa cụ thể của bài học, không mở rộng những nghĩa khác, nhất là những nghĩa xa lạ TaiLieu.VN Page 3 đối với HS, không nên bày ra những biện pháp giải nghĩa cồng kềnh gây quá tải, làm mất thời gian luyện đọc của HS. b.3. Tìm hiểu nội dung bài: * Phạm vi nội dung cần tìm hiểu: + Với văn bản văn chương: Nhân vật (số lượng, tên, đặc điểm), tình tiết câu chuyện,nghĩa đen, nghĩa bóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ. Ý nghĩa của câu chuyện, bài văn, bài thơ. + Với các văn bản khác (khoa học, hành chính, báo chí …): Tìm hiểu các đoạn của văn bản, hình thức và bố cục, nội dung và ý nghĩa của văn bản, tác dụng … * Cách tìm hiểu nội dung bài đọc: SGK thường nêu những câu hỏi tái hiện, sau đó mới đặt ra những câu hỏi suy luận. Dựa vào câu hỏi đó GV tổ chức cho HS hoạt động trao đổi, thảo luận, trả lời câu hỏi, báo cáo kết quả thảo luận … sao cho mỗi em đều được làm việc để tự nắm được bài. Trong quá trình giảng dạy GV có thể thêm những câu hỏi phụ, câu hỏi dẫn dắt, những yêu cầu, những lời giảng bổ sung (không lạm dụng việc thuyết giảng). Sau khi HS nêu ý kiến, GV sơ kết, nhấn mạnh ý chính và ghi bảng. Trong quá trình tìm hiểu bài, GV phải chú ý rèn cho HS cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý băng câu văn gọn, rõ. c. Hướng dẫn đọc và học thuộc lòng: c.1. Luyện đọc thành tiếng: - Hình thức: cá nhân, từng cặp, nhóm (đôi, lớn) đồng thanh, cả lớp đồng thanh, một nhóm HS đọc theo cách phân vai. GV lắng nghe để phát hiện khả năng đọc của từng HS để có cách rèn đọc thích hợp. c.2. Luyện đọc thầm: Dựa vào SGK, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho HS nhằm định hướng việc trước khi các em đọc “ đọc - hiểu” (Đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào? Đọc để hiểu, biết nhớ điều gì?). Có đoạn văn, đoạn thơ cần cho HS đọc thầm 2-3 lượt với tốc độ nhanh dần và từng bước thực hiện các nhiệm vụ từ dễ đến khó, nhằm rèn cho HS kĩ năng đọc hiểu. Tránh TaiLieu.VN Page 4 đọc thầm chiếu lệ, hình thức (đọc lâm râm nhưng không nắm được nội dung, GV giao việc không cụ thể rõ ràng). c. 3. Luyện đọc thuộc lòng: Với những bài thuộc lòng GV cần cho HS luyện đọc kĩ hơn. Cần ghi bảng một số “từ chốt” để làm “điểm tựa”để HS đễ nhớ và thuộc sau đó xoá dần từ chốt; hoặc tổ chức trò chơi luyện HTL nhẹ nhàng tạo hứng thú cho HS. d. 4. Đọc lướt : Khi muốn cho học sinh tìm 1 từ, cụm từ, câu nào đó mà không phải phải tìm hiểu nội dung của câu đoạn đó, ta có thể cho học sinh đọc lướt cả đoan hay bài để tìm. Đọc lướt đòi hoit học sinh lướt mắt nhanh tìm và nêu lên những yêu cầu của giáo viên. (Chủ yếu dành cho học sinh lớp 4, 5) V. Quy trình dạy Tập đọc: a. Đối với lớp 1: · GV giới thiệu bài (có thể bằng tranh, ảnh…) " GV đọc mẫu bài " Hướng dẫn HS luyện đọc theo trình tự sau: · Đọc tiếng, từ ngữ, ( từ khó, phát âm dễ lẫn;giải nghĩa từ ). · Đọc từng câu ( tiếp nối ). · Đọc từng đoạn ( cá nhân, đồng thanh ). · Ôn và học một cặp vần. · Đọc và trả lời câu hỏi về bài đọc. · Luyện đọc lại ( hoặc HTL). · Luyện nói theo bài đọc. · b. Đối với lớp 2-3: · GV giới thiệu bằng lời, bằng câu hỏi ( tranh, ảnh…) " GV đọc mẫu bài " Hướng dẫn HS luyện đọc kết hợp giải nghĩa từ theo các bước sau: · Đọc nối tiếp từng câu (bỏ qua giai đoạn đọc tiếng, từ). Mục đích của bước đọc này là nhằm chia nhỏ văn bản cho nhiều HS được đọc, giúp GV phát hiện cách đọc, cách phát âm của từng em. GV chỉ cho HS dừng lại khi cần giúp HS sửa lỗi nếu có em phát âm sai; khen ngợi những HS đọc tốt. TaiLieu.VN Page 5 · Đọc tiếp nối từng đoạn trước lớp: Tạo điều kiện GV giúp HS đọc đúng những câu đặc biệt; nghỉ hơi đúng; hiểu đúng từ ngữ " làm mẫu cho HS đọc đúng khi đọc theo cặp, theo nhóm nhỏ. · Đọc từng đoạn trong nhóm: Tạo điều kiện cho 100% HS được luyện đọc Thi đọc từng đoạn trước lớp đối với lớp 2. (Lớp 3 bỏ qua bước này). Chú ý: tích hợp trong khi rèn đọc đúng: từ khó, câu khó, giải nghĩa từ ở chú thích. Nhấn giọng một số từ ngữ cần thiết. - Hướng dẫn HS tìm hiểu bài: Khi tìm hiểu bài HS chủ yếu đọc thầm. GV giao nhiệm vụ cụ thể (đọc thầm phát hiện những từ ngữ, chi tiết hình ảnh; đọc thầm suy nghĩ trả lời câu hỏi) để kiểm soát đọc. - Luyện đọc lại (hoặc HTL). - GV đọc diễn cảm từng đoạn hoặc cả bài ; lưu ý HS về giọng điệu chung của đoạn hoặc bài, những câu cần chú ý. Đối với Lớp 2-3 đọc diễn cảm chưa phải là yêu cầu bắt buộc. Do đó, tuỳ trình độ HS, GV có thể xác định mức độ cho phù hợp - Từng HS hoặc nhóm thi đọc. b. Đối với lớp 4-5: - HS nối nhau đọc từng đoạn ; đọc 2-3 lượt (Với HS đọc tốt có thể cho 1 HS đọc cả bài trước khi đọc nối tiếp từng đoạn). - HS luyện đọc theo cặp. - Một - hai HS đọc cả bài. Chú ý: tích hợp trong khi rèn đọc đúng: từ khó, câu khó, giải nghĩa từ ở chú thích. - GV đọc diễn cảm toàn bài. - GV hướng dẫn HS trao đổi, thảo luận tìm hiểu nội dung bài đọc. - GV hướng dẫn HS luyện đọc lại (hoặc đọc diễn cảm với những văn bản nghệ thuật). Để luyện học sinh đọc được diễn cảm giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài. Sau khi hiểu nội dung bài GV giúp học sinh tìm ra giọng đọc cả bài, giọng đọc từng đoạn. VD: Trong bài tiếng rao đêm: cần đọc với giọng kể chuyện phù hợp với tình huống mỗi đoạn : khi chậm, khi buồn, khi dồn dập, căng thẳng, bất ngờ. TaiLieu.VN Page 6 Để HS đọc diễn cảm tốt cần cho học sinh biết cách nhấn giọng một số từ ngữ trong bài. Tùy theo bài mà chúng ta có cách nhấn giọng khác nhau: như nhấn giọng tự nhiên ở các dòng thơ. (bài Cao Bằng). Nhấn giọng các từ ngũ gợi cảm, nhấn giọng các từ ngữ diễn tả âm thanh, hình dáng, các danh từ, động từ chính trong câu vv… • Về phân bố thời gian: (tùy theo từng bài mà có sự phân bố thời gian hợp lí. - Phần kiểm tra bài cũ: 3-5 phút - Bài mới: + Phần tìm hiểu nội dung bài: Từ 8- 10 phút + Ưu tiên cho phần luyện đọc và các hoạt động về đích: 20 phút TaiLieu.VN Page 7

 

PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO TRONG GIẢNG DẠY Ở CẤP TIỂU HỌC Đổi mới phương pháp dạy học là nhằm khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học. Từ đó mỗi GV sẽ phát huy tính tự giác chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp hơn với đặc điểm của từng lớp học, môn học. Với HS tiểu học kiến thức chưa đòi hỏi ở mức độ quá khó, vấn đề cơ bản là GV phải biết khơi gợi niềm say mê yêu thích môn học của HS. Tạo niềm say mê khám phá kiến thức Ngoài mục đích truyền thụ tri thức cho người học, các tiết lên lớp phải có một phương pháp giảng dạy phù hợp, sinh động. Đây là điều mà bất cứ GV nào cũng hiểu, tuy nhiên để tạo nên một không khí sinh động và lôi cuốn HS thì không hề đơn giản. Để làm được điều đó người GV không chỉ làm chủ kiến thức trong lĩnh vực dạy học của mình mà cần phải có phương pháp sư phạm thích hợp để phát huy tính chủ thể của HS. Trước hết GV phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ, phải có năng lực sư phạm. Năng lực sư phạm gồm: Năng lực khoa học; hiểu học sinh; ngôn ngữ diễn đạt; cách tổ chức; trình bày bài giảng; óc tưởng tượng sư phạm… GV muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp, trong đó có các phương pháp thuyết minh; đàm thoại; quan sát; thảo luận; thí nghiệm; hỏi đáp; nêu vấn đề… Đổi mới phương pháp giáo dục tất yếu phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học để tạo một sự tương ứng cần thiết. Sự đa dạng của phương pháp dạy học đòi hỏi phải có một số hình thức tổ chức dạy học thích hợp. Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực để phát triển học sinh ở một khía cạnh nào đó. Vì vậy mỗi GV cần biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của mỗi hình thức tổ chức dạy học. Phương pháp dạy học mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn. Tiểu học là cấp học đầu tiên không chỉ hình thành nên nhân cách người học mà còn tạo nền tảng kiến thức TaiLieu.VN Page 1 và đặc biệt là cách tiếp cận với tri thức khoa học. Bởi vậy nhiệm vụ của GV tiểu học gắn với trách nhiệm nuôi dưỡng tạo cho các em niềm say mê khám những tri thức khoa học đầu tiên. Áp dụng PPDH mới trong hội thi GV giỏi Hội thi GV giỏi tiểu học Hà Nội đã thu hút được đông đảo các thầy cô giáo tham gia với mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Theo ông Phạm Xuân Tiến, Trưởng phòng GD&ĐT Tiểu học Hà Nội: Đây là hoạt động chuyên môn thường niên nhằm đẩy mạnh chất lượng giáo dục của cấp tiểu học Thủ đô. Vì vậy ngoài phần dự thi lý thuyết tìm hiểu về Luật Giáo dục, Điều lệ trường tiểu học, các qui định của ngành - cấp học, xử lí tình huống sư phạm… các GV phải thể hiện kiến thức và năng lực sư phạm trong các tiết dạy. Bởi vậy việc đổi mới PPDH trong các tiết dạy là một trong những yếu tố để nâng cao chất lượng dạy học theo xu thế hội nhập. Hội thi giúp những người thầy giỏi lan tỏa được sự ảnh hưởng của mình rộng hơn. Từ đó chất lượng dạy và học trong các nhà trường được nâng cao hơn. Trong tiết dạy “ Mùa Xuân đến” của phân môn Tập đọc lớp 2, cô giáo Trần Thị Thu Trang của trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai đã áp dụng linh hoạt phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đối tượng học sinh. Với cách vào bài nhẹ nhàng hấp dẫn GV đã dẫn dắt HS tiếp cận bài đọc một cách tự nhiên. Mục tiêu chính của tiết học là giúp HS biết cách đọc lưu loát từng đoạn văn trong SGK, song song với đó GV định hướng cho các em có giọng đọc phù hợp theo mạch cảm xúc. Ngoài việc đọc theo ngôn từ, từng cấp độ GV hướng dẫn cho HS tìm hiểu về vẻ đẹp mùa xuân qua những tính từ chỉ màu sắc, âm thanh kết hợp với những từ ngữ miêu tả về loài vật. Bởi vậy cảnh vật về mùa xuân không chỉ hiện ra theo cái vốn có của ngôn từ mà nó trở nên sinh động hơn bởi giọng đọc của cô và trò kết hợp cùng những câu hỏi nhịp nhàng khơi gợi cảm xúc. Cô giáo đã chốt lại nội dung bài đọc với nhận xét: “Mùa xuân như một phép màu kì diệu, xuân đến làm cho vạn vật thay đổi. Tất cả bừng lên một sức sống mới rạng rỡ và tươi đẹp hơn”. Điều ghi nhận ở giờ dậy là bên cạnh việc sử dụng thành thạo phương tiện dạy học hiện đại dùng máy chiếu, tạo hình ảnh sinh động lôi cuốn HS, GV đã làm chủ kiến thức bám sát vào các đối tượng cụ thể để truyền thụ. Giờ dạy đã đáp ứng được các đối tượng HS giỏi, khá, trung bình thông qua những câu hỏi phát hiện, tái hiện và nên vấn đề của GV. Mỗi một phân môn lại hướng đến các phương pháp dạy học đặc thù. Nếu trước đây giờ TaiLieu.VN Page 2 học đạo đức thường bị con là giáo điều, khô cứng thì trong giờ dạy về nội dung “Biết nói lời yêu cầu đề nghị” của cô giáo Lê Thị Hậu trường Tiểu học Tân Mai lại hướng tới một cách dạy hiện đại sinh động. Học sinh được tiếp cận với những tình huống ứng xử cụ thể trong giáo tiếp hàng ngày. Không chỉ qua những hình ảnh gián tiếp mà các em còn được nhập vai trong các tình huống. Từ thực tế mà HS đưa ra những nhận xét thế nào là lời yêu cầu lịch sự có văn hóa và từ đó biết tránh xa những lời nói chưa hay, chưa đẹp. Ở tiết dạy này trên cơ sở lý thuyết, GV đã tự xây dựng một giáo án sinh động mang tính khả thi cao, giúp HS hiểu được các hành vi cũng như cách nói văn minh lịch sự từ thực tế chứ không phải là cách dạy giáo điều. Theo bà Bùi Thị Thanh (phó phòng GD&ĐT quận Hoàng Mai), trong PPDH mới thì vai trò của GV là người định hướng dẫn dắt còn HS sẽ phát huy được tính chủ thể thông qua những tranh luận về nội dung bài học. Bởi vậy đích đến của giờ dạy ở tiểu học là phải hướng tới một giờ học thân thiện tạo cho HS hứng thú trong học tập. Giáo viên biết tổ chức linh hoạt, nhịp nhàng các hoạt động học. Học sinh biết cách học, thích khám phá kiến thức mới và biết làm mới các kiến thức. Như vậy việc đổi mới PPDH nên bắt đầu từ những bài dạy cụ thể để HS được trực tiếp thể hiện tính sáng tạo của mình. TaiLieu.VN Page 3

 

PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá. Sử dụng trò chơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng đã học. Trong thực tế dạy học, GV thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Quy trình thực hiện Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi. Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau: - Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài. - Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, quân bài, thẻ từ, cờ…) - Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm… - Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi. (nếu có) Bước 3: Thực hiện trò chơi Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi.. Bước này bao gồm những việc làm sau: - Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm. + Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đoạt giải. + Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện. Ưu điểm TaiLieu.VN Page 1 - Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học. - Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, đo đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới. - Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho HS. Nhược điểm: - Khó củng cố kiến thức, kỹ năng một cách có hệ thống. - Học sinh dễ sa đà vào việc chơi mà ít chú ý đến tính chất học tập của các trò chơi. Một số điều cần lưu ý Sử dụng trò chơi học tập là phương pháp có thể vận dụng để dạy học Ngữ văn ở tất cả các lớp của bậc học phổ thông, trong đó có dạy học Tiếng việt ở Tiểu học. Khi sử dụng phương pháp này, GV cần chú ý một số điểm sau: - Lựa chọn hoặc tự thiết kế trò chơi đảm bảo những yêu cầu: + Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình. + Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động. + Luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, dễ thực hiện. Cần đưa ra các cách chơi có nhiều HS tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác. + Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ - Chọn quản trò chơi có năng lực phù hợp với yêu cầu của trò chơi. - Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho học sinh hứng thú học tập vừa hướng cho học sinh tiếp tục tập trung các nội dung khác của bài học một cách có hiệu quả. Ví dụ minh họa 1. Trò chơi trong bài học vần lớp 1: Tìm các từ có vần oa (bài 91, tiếng việt 1, tập hai, tr.101) TaiLieu.VN Page 2 Bước 1: Giới thiệu tên, mục đích của trò chơi (nhằm mở rộng vốn từ có vần oa cho học sinh và nêu cách viết đúng các từ có vần oa) Bước 2: - Chia lớp thành hai đội chơi - GV làm quản trò. - Dụng cụ chơi: Mỗi đội có một tờ giấy khổ to để viết từ tìm được, mỗi cá nhân cso một số mảnh giấy nhỏ, bút để viết các từ có vần oa đã tìm. - Cách chơi: Từng đội bàn với nhau để thống nhất các từ đã chọn và viết vào giấy khổ to (2 đội không được nhìn bài nhau). Sau 5 phút, mỗi đội treo kết quả(tờ giấy to ghi các từ tìm được lên bảng). Mỗi từ viết đúng được tính điểm. Đội có điểm cao hơn là đội thắng. Đội thua sẽ hát tặng đội thắng 1 bài hát. Bước 3: HS thực hiện chơi Bước 4: - GV đọc từng từ của từng đội và cho điểm, GV sửa lại các từ sai hoặc bỏ. GV công bố điểm và xác định đội thắng. Đội thua hát tặng đội bạn. - HS nêu lại mục đích của trò chơi đã đạt được sau khi chơi: Số từ có vần oa 2 đội tìm được, một số từ ngữ có vần oa phải viết đúng, ví dụ như: quả cam, mua quà… 2. Trò chơi trong bài tập làm văn lớp 2: Thi viết tiếp sức đoạn văn. Bước 1: Giới thiệu tên và mục đích của trò chơi. Múc đích của trò chơi là HS luyện tập viết từng câu diễn đạt từng ý nhỏ trong đoạn văn kể hoặc tả đơn giản (phục vụ cho các bài học có nội dung kể hoặc tả ngắn trong Tiếng việt 2, tập hai) Bước 2: - Chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 6-8 học sinh. - Quản trò là giáo viênn, 2 học sinh giúp GV làm trọng tài. - Dụng cụ chơi: + Bảng chia lớp làm 2 phần: Phân bên kia ghi yêu cầu của trò chơi: Viết tiếp sức một đoạn văn 5-7 câu nói về một loài chim em yêu thích và ghi cách tính điểm (tổng điểm 10, trong đó mỗi câu viết đúng 2 điểm, đoạn văn không có lỗi về câu: 1 điểm, đoạn văn không có lỗi về chính tả: 1 điểm.). Phần phải của bảng ghi 4 câu hỏi gợi ý: 1 tên loài TaiLieu.VN Page 3 chim, nơi chúng sống. 2. hình dáng và màu lông có gì hấp dẫn? 3. chim ăn gì?. 4. Chim thường làm gì? Có ích gì? + Giấy trắng to phát cho mỗi nhóm để viết tiếp sức đoạn văn. - Cách chơi: từng nhóm HS trao đổi thống nhất câu trả lời cho từng câu hỏi gợi ý để viết vào giấy khổ to của nhóm . Sau 5 phút các nhóm ngừng chơi, treo kết quả nhóm lên các bức tường của lớp. Từng nhóm đọc to đoạn văn đã viết. Trọng tài hướng dẫn cả lớp bình điểm từng đoạn văn. 2 nhóm có điểm cao sẽ được thưởng. Bước 3: Học sinh thực hiện trò chơi. Bước 4: - GV thay mặt tổ trọng tài công bố điểm và trao giải thưởng cho 2 nhóm có điểm cao. - HS tự sửa đoạn văn của nhóm mình để hoàn thiện kết quả, từng HS viết đoạn mình thích vào vở. 3. Trò chơi Luyện từ và câu lớp 3: Ai thế nào? Bước 1: Giới thiệu tên và mục đích của trò chơi. Mục đích trò chơi là luyện tập kỹ năng nói và viết câu theo mẫu câu ai thế nào? Bước 2: - Chia lớp thành 2 nhóm A và B. Quản trò là GV hoặc 1 học sinh khá. - Dụng cụ chơi: Một số thẻ từ là danh từ hoặc cụm danh tứ, một số thẻ từ là tính từ và cụm tính từ. Các thẻ từ được dính lên bảng lớp. - Cách chơi và cách tính điểm: 2 đội A và B luân phiên nhau đặt câu hỏi và trả lời. Khi đội A chon 1 danh từ hoặc cụm danh từ để hỏi thì đội B phải chọn một tính từ hoặc cụm tính từ phù hợp để trả lời. Sau đó đội B hỏi và đội A trả lời. Mỗi câu trả lời đúng được tính 5 điểm. Đội có điểm cao là đội thắng và được đội thu kể cho nghe một câu chuyện vui. Bước 3: HS thực hiện chơi Bước 4: - Trọng tài công bố kết quả cuộc chơi, đội thua chọn chuyện vui để kể. - GV hướng dẫn học sinh kết nối các thẻ từ thành câu theo kết quả đúng các nhóm đã làm. TaiLieu.VN Page 4 - Mỗi học sinh ghi 2 câu đã nối vào vở (tuỳ chọn) 4. Trò chơi Luyện từ và câu lớp 4: Du lịch (tuần 8 –SGK tiếng việt 4, tập một) Bước 1: Giới thiệu tên và mục đích của trò chơi. Mục đích của trò chơi là luyện viết đúng quy tắc viết hoa tên thủ đô của một số nước trên thế giới. Bước 2: - Chia lớp thành 3 hoặc 4 nhóm sao cho mỗi nhóm có đủ 11 HS. Quản trò là 2HS và trọng tài là giáo viên - Dụng cụ chơi: Mỗi nhóm có 1 tờ giấy to, mỗi tờ giấy có hai cột, cột thứ nhất ghi tên nước, cột thứ hai ghi tên thủ đô, chỗ nào ghi tên nuớc thì cùng dòng với nó không ghi tên thủ đô hoặc ngược lại.. Thứ tự tên nước và tên thủ đô của các tờ giấy to là khác nhau. - Cách chơi: Trong từng nhóm, HS trao đổi để lựa chọn đúng tên nước với tên thủ đô hoặc tên thủ đô đúng với tên nước và điền vào từng chỗ trống trong giấy to. Sau 5 phút, các nhóm ngừng chơi và treo kết quả lên bảng lớp. Mỗi tên viết đúng được 1 điểm. Nhóm có điểm cao là nhóm thắng. Các nhóm thua hát tặng nhóm thắng 1 bài hát. Bước 3: HS thực hiện chơi. Bước 4: - một số HS nhắc lại kết quả đúng đã được xác nhận sau cuộc chơi. - Từng học sinh ghi tên nước và tên thủ đô của 11 nước trong cuộc chơi. 5. Trò chơi luyện từ và câu lớp 5: Từ mang nghĩa nào? Bước 1: Giới thiệu tên và mục đích của trò chơi. Mục đích của trò chơi là biết các nghĩa của một từ nhiều nghĩa và cách dùng từ nhiều nghĩa. Bước 2: - Chia lớp thành 2 nhóm A và B. Quản trò là HS, 2 trọng tài là học sinh khá. - Dụng cụ chơi: Một số từ có nhiều nghĩa (khoảng 6 nghĩa) được ghi trên một thẻ từ, 6 câu mỗi câu chứa từ đã chọn mang 1 nghĩa của từ đó được ghi trên 6 băng giấy to, 6 nghĩa của từ được ghi trên 6 băng giấy to. Đính thẻ từ, các băng giấy ghi câu và các băng giấy ghi nghĩa của từ lên bảng lớp. - Cách chơi và cách tính điểm: 2 nhóm luân phiên nhau một nhóm đọc câu, nhóm kia đọc nghĩa của từ đã chọn trong câu đó. Trọng tài cho điểm từng câu, mỗi câu tìm đúng nghĩa TaiLieu.VN Page 5 từ trong câu được 3 điểm. Đội có số điểm cao sẽ là đội thắng. Đội thua phải bắt nhịp có cả lớp hát một bài. Ví dụ: GV chọn từ đá để cho HS chơi trò này. Bước 3: HS thực hiện chơi. Bước 4: - HS đọc 6 nghĩa cảu từ đã chọn. - Từng HS đọc từng câu và nghĩa của từ đã chọn trong câu đó. TaiLieu.VN Page 6

 

THAM LUẬN VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi phương pháp đã và đang dạy học bằng phương pháp tối ưu hơn đem lại hiệu quả cao hơn trong đó có sự kế thừa của phương pháp cũ. Phương pháp dạy học không phải do một ai đó tự ý vẽ ra mà nó được phát triển trên một số quan điểm, lý luận và mục đích của việc dạy và học củng như phát triển tư duy cho học sinh. Trong quá trình giảng dạy một giáo viên sẽ phải sử dụng nhiều phương pháp dạy học, chẳng hạn với phương pháp vấn đáp. Đó là phương pháp mà bất kì người giáo viên nào cũng phải sử dụng trong các bài giảng của mình.Phương pháp này yêu cầu giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời hoặc có thể tranh luận với nhau và cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức người ta phân biệt 3 hình thức vấn đáp sau: - Vấn đáp tái hiện : Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu Học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Đó là hình thức được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học - Vấn đáp giải thích – minh họa : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Giáo viên lần lượt nêu ra câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa đẻ học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Hình thức này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn. - Vấn đáp gợi mở (hay còn gọi là vấn đáp tìm tòi) : Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để dẫn dắt học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết của học sinh. Trong qua trình dạy học, Giáo viên có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến khích Giáo viên sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi. TaiLieu.VN Page 1 Ở Tiểu học, Giáo viên thường tổ chức hoạt động của Học sinh trong phương pháp vấn đáp theo các bước sau : * Bước 1 : Giáo viên đặt câu hỏi nhỏ, riêng rẽ * Bước 2 : Giáo viên chỉ định từng Học sinh trả lời hoặc để Học sinh tự nguyện trả lời (mỗi Học sinh trả lời một câu hỏi và trước mỗi câu hỏi nên để thời gian cho Học sinh suy nghĩ trả lời) * Bước 3 : Giáo viên tổng hợp ý kiến và nêu ra kết luận dựa trên những câu trả lời đúng của Học sinh => Ưu điểm : + Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập của học sinh + Bồi dưỡng cho Học sinh năng lực diễn đạt những vấn đề học tập bằng lời. + Giúp Giáo viên thu thập thông tin từ phía Học sinh để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học + Tạo không khí học tập sôi nổi trong giờ học. ð Hạn chế : Nếu người giáo viên chưa có nghệ thuật tổ chức , điều khiển đàm thoại thì mang một số hạn chế sau : + Dễ làm mất thời gian , ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học. + có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa Giáo viên và Học sinh, giữa các thành viên của lớp với nhau. ð Khắc phục : + Gv cần chuẩn bị thật tốt hệ thống câu hỏi. Các câu hỏi có liên quan chặt chẽ với nhau, câu hỏi trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế thừa của câu hỏi TaiLieu.VN Page 2 trước.Mỗi câu câu hỏi là một cái nút của từng bộ phận mà học sinh cần lần lượt tháo gỡ thì mới được kết quả cuối cùng. + Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp vấn đáp, Giáo viên cần tổ chức đối thoại theo nhiều chiều : Giáo viên - Học sinh ; Học sinh – Học sinh ; Học sinh - Giáo viên Việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cần thiết và cũng là một trong những vấn đề được đề cập nhiều của ngành giáo dục hiện nay vì vậy để chủ trương đổi mới phương pháp dạy học đi vào chiều sâu , các nhà quản lý giáo dục cũng như các cấp ban lanh đạo trong các nhà trường phải làm sao chuyển được những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thành nhu cầu tất yếu của nhà giáo qua những buổi tập huấn đổi mới phương pháp dạy học. TaiLieu.VN Page 3

 

Đồng bộ tài khoản