Giải bài tập 1,2,3,4,5,6 trang 42 sách giáo khoa GDCD 11

Chia sẻ: Chacvan 05 | Ngày: | 1

0
49
lượt xem
6
download
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Giải bài tập 1,2,3,4,5,6 trang 42 sách giáo khoa GDCD 11

Mô tả BST Giải bài tập 1,2,3,4,5,6 trang 42 sách giáo khoa GDCD 11

Nội dung chính của tài liệu bao gồm phần tóm tắt lý thuyết và định hướng phương pháp giải bài tập cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa trong SGK nhằm giúp các em học sinh nắm được khái niệm, nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh, hiểu được mục đích cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, các loại cạnh tranh và tính hai mặt của cạnh tranh, từ đó biết vận dụng vào giải quyết các dạng bài tập đi kèm. Mời các em tham khảo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP

Tóm tắt Giải bài tập 1,2,3,4,5,6 trang 42 sách giáo khoa GDCD 11

A. Tóm tắt lý thuyết Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá SGK GDCD 11

1. Cạnh tranh và nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh

a. Khái niệm cạnh tranh

- Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất hàng tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.

b. Nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh    

- Trong nền sản xuất hàng hóa, do tồn tại nhiều chủ sở hữu khác nhau, tồn tại với tư cách là những đơn vị kinh tế độc lập trong quá trình sản xuất, kinh doanh nên phải cạnh tranh với nhau.

- Do điều kiện sản xuất của mỗi chủ thể kinh tế lại khác nhau, nên chất lượng chất lượng và chi phí sản xuất  khác nhau, kết quả sản xuất, kinh doanh giữa họ không giống nhau...

- Để giành lấy các đk thuận lợi, tránh được những rủi ro, bất lợi trong sx và lưu thông hàng hóa, dịch vụ, tất yếu giữa họ có cạnh tranh với nhau.

- Sự tồn tại nhiều chủ sở hữu với tư cách là những đơn vị kinh tế độc lập tự do kinh doanh sản xuất.

- Người sản xuất, kinh doanh có điều kiện sản xuất lợi ích khác nhau.

c. Các loại cạnh tranh

- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau.

- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau.

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành.

- Cạnh tranh giữa các ngành.

- Cạnh tranh trong nước với nước ngoài.

2. Mục đích của cạnh tranh

- Mục đích cuối cùng của cạnh tranh là giành lợi ích về mình nhiều hơn người khác.

Ví dụ: 

- Cạnh tranh chiếm các nguồn nguyên liệu, giành các nguồn lực sản xuất khác.

- Giành ưu thế về khoa học công nghệ

- Chiếm thị trường tiêu thụ, nơi đầu tư, đơn đặt hàng, các hợp đồng.

- Giành ưu thế về chất lượng và giá cả hàng hoá, phương thức thanh toán...

3. Tính 2 mặt của cạnh tranh

a. Mặt tích cực

- Kích thích lực lượng sản xuất phát triển, năng xuất lao động tăng cao

- Khai thác tối đa mọi nguồn lực của đất nước.

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế, góp phần hội nhập kinh tế quốc tế.

b. Mặt hạn chế

- Chạy theo lợi nhuận → làm môi trường bị suy thái.

- Dùng những thủ đoạn phi pháp và bất lương để giành giật khách hàng.

- Đầu cơ tích trữ gây rối loạn thị trường.


B. Bài tập Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá SGK GDCD 11

Bài 1 trang 42 SGK GDCD 11

Cạnh tranh là gì? Phân tích tính tất yếu khách quan và mục đích của cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Hướng dẫn giải bài 1 trang 42 SGK GDCD 11

- Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành những điều kiện thuận lợi để thu được nhiều lợi nhuận.

- Sản xuất và lưu thông hàng hóa xuất hiện thì cạnh tranh ra đời, tồn tại và phát triển.

+ Trong nền sản xuất hàng hóa, các chủ sở hữu khác nhau tồn tại với tư cách là những đơn vị kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, do đó họ không thể không cạnh tranh với nhau.

+ Mặt khác, do điều kiện sản xuất của mỗi chủ thể kinh tế khác nhau về trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ, trình độ nghề nghiệp, vốn, trình độ quản lí, điều kiện nguyên, nhiên vật liệu, môi trường sản xuất, kinh doanh, nên chất lượng hàng hóa, chi phí sản xuất khác nhau, làm cho kết quả sản xuất, kinh doanh giữa họ không giống nhau: có người thu lợi nhuận nhiều, có người thu lợi nhuận ít, có người thua thiệt, mất vốn, phá sản,… Để giành lấy những điều kiện thuận lợi, tránh được những rủi ro, bất lợi trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, tất yếu giữa họ có sự cạnh tranh với nhau.

- Mục đích của cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa là nhằm giành lợi nhuận về mình nhiều hơn người khác.

+ Giành nguồn nguyên liệu và các nguồn lực sản xuất khác

+ Giành ưu thế về khoa học và công nghệ

+ Giành thị trường, nơi đầu tư, các hợp đồng và các đơn đặt hàng

+ Giành ưu thế về chất lượng và giá cả hàng hóa, kể cả lắp đặt, bảo hành, sửa chữa, phương thức thanh toán,…


Bài 2 trang 42 SGK GDCD 11

Cạnh tranh có những loại nào? Lấy ví dụ để minh họa.

Hướng dẫn giải bài 2 trang 42 SGK GDCD 11

Tùy theo các căn cứ khác nhau, người ta chia cạnh tranh thành các loại:

- Cạnh tranh giữa người bán với nhau: thường xuất hiện khi trên thị trường nhiều người có cùng loại hàng hóa đem bán, nhưng có ít người mua hàng hóa đó.

+ Ví dụ: Trên cùng một khu phố có nhiều người cùng mở hiệu cắt tóc, giữa họ tất yếu có sự cạnh tranh để giành khách hàng, theo đó giành nhiều lợi nhuận hơn người khác. Muốn vậy họ phải nâng cao tay nghề, thái độ phục vụ tố, địa điểm thuận lợi, giá thấp để được khách lựa chọn.

- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: thường xuất hiện khi trên thị trường hàng hóa đem bán ra ít nhưng người mua hàng hóa đó quá nhiều.

+ Ví dụ: Dịp tết đến, mọi người rất chú ý đến những loại hoa quả độc đáo như dưa hấu, bưởi, dừa hình thỏi vàng, hình ông tiên,… nhưng những loại hoa quả tạo hình như thế có rất ít mà người muốn mua lại rất đông, tất yếu giữa họ phải có cạnh tranh bằng cách đưa ra mức giá cao hơn.

- Cạnh tranh giữa các ngành: là sự ganh đua về kinh tế giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau.

+ Giả sử trong xã hội có ba ngành sản xuất A, B, C cùng canh tranh với nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có nhiều lợi nhuận, muốn vậy họ phải di chuyển các yếu tố của sản xuất từ ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao. Nhưng việc di chuyển này chỉ có thể thực hiện khi có những điều kiện như giao thông vận tải phải phát triển; việc cho vay vốn của ngân hàng được đảm bảo và việc cung ứng máy móc, thiết bị kĩ thuật công nghệ cho ngành mới phải sẵn sàng. Để tối đa hóa lợi nhuận, các ngành A, B, C tất yếu phải cạnh tranh với nhau. Thực chất cuộc cạnh tranh này là cạnh tranh giành giật các điều kiện sản xuất, kinh doanh có lợi nói trên giữa các ngành A, B, C với nhau.

- Cạnh tranh trong nước với nước ngoài: Loại cạnh tranh này xuất hiện khi thị trường vượt khỏi phạm vi trong nước để vươn ra thị trường khu vực và thế giới, gắn với xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

+ Ví dụ: Nhờ đổi mới mô hình kinh tế, việc sản xuất lương thực nước ta không chỉ đủ cho nhân dân ta tiêu dùng, dự trữ dồi dào, mà còn tham gia xuất khẩu lương thực (gạo) trên thị trường thế giới. Và tất yếu chúng ta phải tham gia cạnh tranh với một số chủ thể kinh tế khác cùng xuất khẩu lương thực như nước ta như: Thái Lan, Mỹ, Ấn Độ,…


Bài 3 trang 42 SGK GDCD 11

Khi nước ta là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), theo em, tính chất và mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra theo hướng nào (êm dịu hay gay gắt quyết liệt)? Tại sao?

Hướng dẫn giải bài 3 trang 42 SGK GDCD 11

- Khi nước ta là thành viên của tổ chức thương mại thế giới, theo em tính chất và mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra theo hướng gay gắt, quyết liệt.

- Vì trình độ phát triển của cạnh tranh không đồng đều và lợi ích kinh tế khác nhau giữa nhóm nước công nghiệp phát triển với nhóm nước đang phát triển (trong đó có Việt nam) sẽ làm sự cạnh tranh diễn ra gay gắt và quyết liệt, đòi hỏi nước ta phải có sự thay đổi một cách mạnh mẽ.


Bài 4 trang 42 SGK GDCD 11

Từ tính hai mặt tích cực và hạn chế của cạnh tranh, hãy cho biết Nhà nước cần làm gì để phát huy mặt tích cực và khắc phục được mặt hạn chế của cạnh tranh hiện nay ở nước ta?

Hướng dẫn giải bài 4 trang 42 SGK GDCD 11

Tính hai mặt của cạnh tranh:

- Mặt tích cực: Cạnh tranh giữ vai trò là một động lực kinh tế của sản xuất và lưu thông hàng hóa.

+ Kích thích lực lượng sản xuất, khoa học kĩ thuật phát triển và năng suất lao động xã hội tăng lên.

+ Khai thác tối đa mọi nguồn lực của đất nước vào việc đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

- Mặt hạn chế:

+ Chạy theo mục tiêu lợi nhuận một cách thiếu ý thức, vi phạm quy luật tự nhiên trong khai thác tài nguyên làm cho môi trường, môi sinh suy thoái và mất cân bằng nghiêm trọng

+ Để giảnh giật khách hàng và lợi nhuận nhiều hơn, một số người không từ những thủ đoạn phi pháp, bất lương.

+ Đầu cơ tích trữ gây rối loạn thị trường, từ đó nâng giá lên cao làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân

Cạnh tranh là quy luật kinh tế tồn tại khách quan của sản xuất và lưu thông hàng hóa, vừa có mặt tích cực vừa có mặt hạn chế nhưng mặt tích cực là cơ bản, mang tính trội, còn mặt hạn chế của cạnh tranh thì Nhà nước sẽ điều tiết thông qua giáo dục, pháp luật và các chính sách kinh tế - xã hội thích hợp để hạn chế vi phạm pháp luật(làm hàng giả, bán hàng quốc cấm, dùng thủ đoạn phi pháp, rối loạn thị trường…), mở rộng thị trường, nâng cao đời sống nhân dân.


Bài 5 trang 42 SGK GDCD 11

Có ý kiến cho rằng: Để phát huy mặt tích cực cuả cạnh tranh ở nước ta hiện nay, Nhà nước chỉ cần để ra giải pháp khắc phục mặt hạn chế của cạnh tranh. Điều đó đúng hay sai? Tại sao?

Hướng dẫn giải bài 5 trang 42 SGK GDCD 11

- Ý kiến đó chưa đúng vì:

- Để phát huy mặt tích cực của cạnh tranh ở nước ta hiện nay, chúng ta vừa phải khắc phục hạn chế vừa tiến hành cải tiến khoa học kĩ thuật, tăng cường sự quản lí và giáo dục, nâng cao đời sống nhân dân, có như vậy mới có thể tăng khả năng cạnh tranh lành mạnh. Vì trong nền kinh tế, sự cạnh tranh luôn luôn vận động và biến đổi nên những yếu tố tích cực cũng sẽ dần thay đổi và mất vị trí của nó.


Bài 6 trang 42 SGK GDCD 11

Em hiểu thế nào là cạnh tranh lành mạnh và không lành mạnh? Khi thấy có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, em sẽ xử lí như thế nào?

Hướng dẫn giải bài 6 trang 42 SGK GDCD 11

- Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh đúng pháp luật và chuẩn mực đạo đức, có tác dụng kích thích kinh tế thị trường phát triển đúng hướng.

- Cạnh tranh không lành mạnh là sự cạnh tranh vi phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, làm rối loạn và kìm hãm sự phát triển của kinh tế thị trường.

- Khi thấy có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh em sẽ báo ngay với các cơ quan chức năng để có biện pháp giải quyết kịp thời.

Để tiện tham khảo nội dung tài liệu, các em vui lòng đăng nhập tài khoản trên website elib.vn để download về máy. Bên cạnh đó, các em có thể xem phần giải bài tập của:

>> Bài tập trước: Giải bài tập 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10 trang 34,35 sách giáo khoa GDCD 11

>> Bài tập sau: Giải bài tập 1,2,3,4,5,6,7 trang 47,48 sách giáo khoa GDCD 11
Đồng bộ tài khoản