Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học chọn lọc

Chia sẻ: Phạm Thị Thu Hằng | Ngày: | 6 tài liệu

0
1.592
lượt xem
107
download
Xem 6 tài liệu khác
  Download Vui lòng tải xuống để xem file gốc
Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học chọn lọc

Mô tả BST Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học chọn lọc

Tiếng Việt là một trong những môn chính và quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học. Đây là môn học cung cấp cho các em học sinh những hiểu biết chung về tiếng Việt, hình thành cho các em vốn tiếng Việt riêng để các em học tập và tư duy. Chính vì thế, việc dạy và học tiếng Việt trong trường tiểu học cần phải được thầy và trò chú trong. Để các em học tốt môn Tiếng Việt tiểu học, các thầy cô giáo cần phải có phương pháp dạy hiệu quả nhất. Chúng tôi xin giới thiệu bộ sưu tập Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học chọn lọc nhằm giúp các thầy cô có thêm nguồn tài liệu tham khảo để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy của mình. Các tài liệu này sẽ giúp quý thầy cô hình thành nên phương pháp dạy học mới, các phương pháp dạy học tích cực mang lại hiệu quả cao. Mời quý thầy cô giáo tham khảo.

LIKE NẾU BẠN THÍCH BỘ SƯU TẬP
QUY TRÌNH – PHƯƠNG PHÁP – BIỆN PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC TỪNG KHỐI MÔN TẬP ĐỌC Ở TIỂU HỌC 1. Dạy Tập đọc lớp 1: Bài tập đọc lớp 1 học trong 2 tiết, mỗi tiết 35 phút: 1.1 Tiết 1: -Nhiệm vụ của tiết 1 là luyện đọc thành tiếng (luyện đọc tiếng, từ ngữ, đọc đoạn, đọc bài) sao cho trơn tru, lưu loát. Giáo viên cần để cho nhiều học sinh được luyện đọc, đặc biệt chú ý các em đọc kém). -Học sinh luyện đọc cá nhân (đọc nhẩm, đọc thành tiếng) là chính, có thể giao cho các tổ đọc cá nhân). Trong tiết này, hạn chế đọc chung. -Ở tiết 1, việc ôn và đọc âm, vần giúp các em luyện đọc trơn tiếng, trơn từ ngữ và câu, có thể tìm ở trong bài hoặc ngoài bài; có thể thông qua các hình th ức trò chơi (cá nhân hoặc tổ, nhóm). Ví dụ: Ai tìm được tiếng có vần ai, ay trong bài (ngoài bài) nhanh nhất? Ai tìm đ ược nhiều nhất tiếng có vần ai, ay? Ai ghép âm với vần để tạo thành ti ếng (hoặc ghép các tiếng, từ để tìm thành câu nhanh nhất?) Như vậy, trọng tâm của tiết 1 là giúp học sinh luyện đọc trơn tiếng, từ ngữ, luyện đọc lưu loát, chỉ khi nào học sinh hoàn thành nhiệm vụ này, các em mới có khả năng học tiết 2. Cần chú ý giúp các em học kém đọc được bài, chú ý các hình thức luyện đọc (trước lớp, trước tổ và nhóm tự đọc...), chú ý các hình thức trò chơi kích thích hứng thú học tập của học sinh. 1.2 Tiết 2: -Tiết 2 có nhiệm vụ giúp học sinh nhớ, hiểu được nội dung bài kết hợp chặt ch ẽ với việc luyện đọc nhiều lần văn bản. Do đó cần coi trọng luyện đọc lưu loát. -Trước khi hỏi học sinh về nội dung một câu, một đoạn trong bài cần yêu cầu học sinh đọc lại câu đó sao cho thông thạo (không phải nhẩm vần, không đọc ê a). TaiLieu.VN Page 1 -Ở các lớp kém, giáo viên nên để một khoảng thời gian dài hơn cho vi ệc luy ện đ ọc. Phần hỏi về nội dung bài có thể ngắn lại, trong một vài trường hợp có thể lược bớt 1, 2 câu hỏi. Một số chú ý về phương pháp dạy: - Giáo viên yêu cầu học sinh trong lớp đều đọc. Cách làm: gọi 1 em đầu bàn cả dãy lần lượt đứng lên (giáo viên không phải nói nhiều, tăng nhịp độ c ủa gi ờ h ọc, tất cả học sinh đều được đọc). - Để tránh đọc vẹt, sau khi học sinh đã đọc qua bài, nên cho các em đọc trơn không theo trật tự các câu văn hoặc dòng thơ trong bài. - Sử dụng các hình thức trò chơi: thi đọc cá nhân, thi đ ọc gi ữa các nhóm, t ổ, trò ch ơi ngôn ngữ... ở các tiết học để giờ học sinh động (nhưng nên kết thúc tiết 1 bằng trò chơi ngôn ngữ). 1.3. Quy trình dạy tập đọc lớp 1 Tiết 1: Gồm các bước: 1. Kiểm tra bài cũ. 2. Dạy bài mới: a. Giới thiệu bài. b. Hướng dẫn học sinh (HDHS) luyện đọc. - Giáo viên đọc toàn bài. - HDHS luyện đọc tiếng, từ ngữ (tiếng từ khó, dễ phát âm lẫn) kết hợp giải nghĩa từ. - HDHS luyện đọc câu, đoạn, bài. Kết hợp ôn luyện vần: - Học sinh đọc vần cần ôn. - Phân tích tiếng chứa vần cần ôn. - Tìm tiếng (trong bài, ngoài bài) chứa vần cần ôn. - Thi tìm từ, nói câu chứa vần cần ôn (trò chơi ngôn ngữ). Tiết 2: Gồm các bước: c. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài đọc, luyện nói. TaiLieu.VN Page 2 - Luyện đọc kết hợp tìm hiểu bài. - Luyện đọc kết hợp trả lời từng câu hỏi. - Tập nói theo chủ điểm (hoặc trò chơi nếu có). 3. Củng cố, nhận xét, dặn HS học bài ở nhà 2. Dạy Tập đọc lớp 2 & 3: 2.1. Hướng dẫn đọc và học thuộc lòng -Luyện đọc thành tiếng: với các hình thức: đọc cá nhân, đọc đồng thanh (theo nhóm – bàn – tổ, lớp), đọc theo vai (có sự phối hợp giữa các cá nhân trong nhóm). - Luyện đọc thầm: đọc thầm (hoặc đọc nhẩm ở giai đoạn đầu lớp 2) một lượt hay nhiều lượt để trả lời câu hỏi về tình huống cho trước - Luyện học thuộc lòng: nên dựa theo các từ ngữ gợi ý (“điểm tựa”) – nhớ và đọc l ại không có từ ngữ gợi ý; thuộc từng khổ thơ (đoạn thơ), bài thơ. 2.2 Ghi bảng: - Phải bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm, có tác dụng trực quan thi ết th ực (ngắn gọn, súc tích); dùng bảng lớp, bảng phụ (hoặc giấy khổ to). - Ghi bảng phải theo tiến trình và nội dung dạy học (có thể chia b ảng thành hai c ột): Luyện đọc; Tìm hiểu bài; dựa vào yêu cầu minh hoạ trực quan trong quá trình giảng dạy. 2.3. Quy trình dạy - học thông thường (các hoạt động dạy - học): 1.Kiểm tra bài cũ 2.Dạy bài mới: a. Giới thiệu bài b. Luyện đọc đúng: - Giáo viên đọc mẫu. - Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ: + Đọc từng câu (kết hợp luyện đọc đúng từ ngữ). + Đọc từng đoạn trước lớp (kết hợp luyện đọc đúng câu và tìm hiểu nghĩa từ ngữ). + Đọc từng đoạn trong nhóm. TaiLieu.VN Page 3 + Thi đọc giữa các nhóm. + Cả lớp đọc đồng thanh (một, hai đoạn hoặc cả bài). 3. Hướng dẫn tìm hiểu bài (Luyện đọc – hiểu, trả lời câu hỏi theo SGK). -Luyện đọc diễn cảm và học thuộc lòng (nếu có -Hoặc luyện đọc theo vai, tổ chức trò chơi luyện đọc… Lưu ý: Ở bài tập đọc truyện kể lớp 2 (2 tiết), giáo viên có thể hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài một nửa văn bản ở tiết 1, một nửa văn bản ở ti ết 2. Bài tập đ ọc - k ể chuyện lớp 3 (2 tiết) cần dành nửa tiết cuối để dạy kể chuyện. 3. Dạy Tập đọc lớp 4, 5: 3.1. Hướng dẫn đọc: a. Đọc thành tiếng: - Đọc mẫu: + Đọc câu, đoạn, bài + HS khá đọc mẫu câu (đoạn, bài) à tự phát hiện cách đọc, sửa chữa. + GV đọc mẫu toàn bài sau khi HS đã luyện đọc. -Luyện đọc đúng: +Tập phát âm đúng tiếng, từ, câu khó, ngắt, nghỉ hơi đúng, tốc độ thích hợp. + Đọc trơn đoạn, bài. -Luyện đọc diễn cảm: + Văn bản nghệ thuật: đọc đúng ngữ điệu (ngắt giọng, nhấn giọng, tốc độ, sắc thái tình cảm). + Văn bản phi nghệ thuật: xác định ngữ điệu đọc rõ ràng, rành mạch, ngắt nghỉ đúng, nhấn mạnh nội dung thông tin, không đọc diễn cảm tuỳ tiện. -Luyện học thuộc lòng: + Có từ ngữ gợi ý + Không có từ ngữ gợi ý + Khổ thơ, đọc, bài. TaiLieu.VN Page 4 -Các hình thức đọc thành tiếng: + Cá nhân (riêng lẻ, nối tiếp) + Đồng thanh (theo nhóm, tổ, bàn, dãy bàn, lớp) + Đọc theo vai (phối hợp nhiều HS) + Trò chơi… b. Đọc thầm và đọc -hiểu: -Đọc thầm: + Đọc từ chú giải, đoạn, bài. + Đọc thầm tìm hiểu bài: Giao nhiệm vụ cụ thể, nêu câu hỏi định hướng. + Đọc lướt một lượt, nhiều lượt, kết hợp nghe, hiểu trả lời câu hỏi. -Đọc- hiểu: Đọc đoạn, tìm ý đoạn; đọc bài tìm đại ý, dàn ý, tóm tắt bài. 3.2. Hướng dẫn tìm hiểu bài: a. Giúp HS hiểu nghĩa của từ ngữ mới: - Các từ cần tìm hiểu: từ khó, từ chưa quen, từ chìa khoá. - Cách tìm hiểu: đọc chú giải SGK, trao đổi thảo luận… - Các biện pháp: + Trực quan + So sánh, đối chiếu + Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa + Đặt câu + Miêu tả đặc điểm… b. Giúp HS nắm vững câu hỏi (bài tập) tìm hiểu bài - HS đọc thầm, trình bày lại yêu cầu của câu hỏi. - Những câu hỏi khó, khái quát có thể tách thành ý nhỏ hoặc thêm câu hỏi phụ. - Tránh đặt thêm câu hỏi vượt quá yêu cầu (không tự nâng cao). - HD HS tìm hiểu nhân vật, tình tiết, hình ảnh, nghĩa đen, nghĩa bóng, ý nghĩa bài. TaiLieu.VN Page 5 3.3. Ghi bảng: Tham khảo ở sách giáo viên Tiếng Việt 4, lớp 5, T1 và nên chọn mô hình 1. 3.4. Qui trình dạy tập đọc lớp 4 và 5 1. Kiểm tra bài cũ 2. Dạy bài mới a. Giới thiệu bài b. Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài - Luyện đọc: + Một,hai HS khá đọc toàn bài + HS đọc thành tiếng từng đoạn văn (khổ thơ): + Đọc nối tiếp từng đoạn trước lớp (2-3 vòng), kết hợp sửa l ỗi đ ọc và gi ải nghĩa t ừ khó. + Đọc theo cặp: mỗi HS đọc một đoạn (2 vòng) , mỗi HS được đọc tất cả các đoạn. + Một, hai HS đọc toàn bài. + Giáo viên đọc mẫu toàn bài -Tìm hiểu bài: + GV hướng dẫn HS đọc – hiểu: đọc và trả lời từng câu hỏi trong SGK (hoặc các câu hỏi được chia tách, bổ sung) bằng các hình thức dạy học phù hợp:cá nhân, nhóm, trò chơi… + Sau khi HS nêu ý kiến, GV cần chốt lại ý chính ghi bảng ngắn gọn, giúp HS ghi nhớ bài học. -Đọc diễn cảm (đối với văn bản nghệ thuật, luyện đọc lại đối với văn bản khác) + Hướng dẫn HS đọc từng đoạn văn (khổ thơ): + Một số HS đọc: mỗi em đọc một đoạn. + GV hướng dẫn, điều chỉnh cách đọc. + Hướng dẫn cách đọc kĩ một đoạn văn (khổ thơ). + GV dùng lời nói kết hợp ghi bảng, sử dụng đồ dùng dạy học (bảng quay, giấy khổ to) để hướng dẫn HS cách đọc. TaiLieu.VN Page 6 + GV đọc mẫu + HS luyện đọc theo cặp + HS thi đọc diễn cảm trước lớp. -Học thuộc lòng (những bài có yêu cầu). c. Củng cố, dặn dò Chú ý: GV cũng có thể dạy bài tập đọc theo cách “bổ ngang”: luyện đọc, tìm hiểu bài, hướng dẫn đọc diễn cảm theo từng đoạn văn, khổ thơ. TaiLieu.VN Page 7

 

CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU TRONG DẠY TẬP ĐỌC LỚP 4 Ở bậc tiểu học, phân môn tập đọc là một phân môn cơ bản, làm cơ sở cho học sinh học tốt các phân môn khác của môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác trong chương trình tiểu học. Để giúp GV nắm bắt được những thông tin liên quan đến chương trình SGK Tiếng Việt 4, tôi xin nêu một số vấn đề thuộc nội dung dạy học phân môn Tập đọc. 1. Văn bản dạy học: Cũng giống như ở lớp 3, để đạt mục tiêu kỹ năng giao tiếp cho HS, chương trình tập đọc lớp 4 đã sử dụng những văn bản thuộc nhiều thể loại khác nhau, có thể gọi chung là nhóm Các văn bản nghệ thuật ( truyện, thơ, ký…) và nhóm các Văn bản khác ( khoa học, hành chính, báo chí…) phản ánh nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau. Tuy nhiên hệ thống chủ điểm các bài học lớp 4, so với lớp 3 và các lớp dưới có tính khái quát, đi vào bản chất các hiện tượng đời sống hơn, đề cập trực tiếp đến những vấn đề thuộc đời sống tinh thân của con người. Đó là 10 chủ điểm sau: - Thương người như thể thương thân ( đề cập tới lòng nhân ái) - Măng mọc thẳng ( giúp học sinh hiểu rõ hơn về phẩm chất trung thực, lòng tự trọng) - Trên đôi cánh ước mơ ( mêu tả những kỷ niệm, buồn vui tuổi thơ) - Người ta là hoa đất ( giúp học sinh khám phá vẻ dẹp của năng lực, tài trí con người) - Vẻ đẹp muôn màu ( giới thiệu những vẻ đẹp khác nhau của cuộc sống hằng ngày) - Những người quả cảm ( giới thiệu những tấm gương dũng cảm) - Khám phá thế giới ( cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học về đời sống, những hiểu biết về thế giới) - Tình yêu cuộc sống ( bồi dưỡng tinh thần lạc quan, yêu đời cho học sinh) 2. Các biện pháp dạy học chủ yếu: Để củng cố, nâng cao kỹ năng đọc trơn, đọc thầm và rèn kỹ năng đọc diễn cảm, GV phải kết hợp các thao tác đọc mẫu các cụm từ, câu, đoạn khi HS mắc lỗi mà khó sửa và có thể đọc mẫu cả bài trước khi cho HS luyện đọc diễn cảm nhằm tạo hứng thú, thu hút sự chú ý của HS hoặc đọc khi củng cố bài học ở cuối giờ TaiLieu.VN Page 1 Thực tế dạy học cho thấy khả năng đọc mẫu của giáo viên tiểu học chưa đồng đều. Sự thành công hi đọc mẫu của GV thường dựa vào giọng đọc trời phú nhiều hơn là tìm được cách đọc phù hợp trên cơ sở cảm thụ, tiếp nhận văn bản một cách thấu đáo. Thông thường lúc gặp khó khăn, GV sẽ cầu viện ở sách giáo viên, điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng sách giáo viên không thể và không bao giờ là tất cả, bởi vì theo quan diểm biên soạn sách các tác giả bao giờ cũng tạo điều kiện để giáo viên tự chứng tỏ khả năng sư phạm của mình. Do vậy, việc tiếp thu, vận dụng có sáng tạo những gợi ý của sách giáo viên khi đọc mẫu và hướng dẫn HS đọc là điều luôn phải đặt ra. VD: Bài Ông Trạng thả diều ( tuần 11) – Trong phần hướng dẫn đọc diễn cảm, sách giáo viên chọn đoạn giữa cho HS luyện đọc, đó là đoạn có nhiều câu văn dài và khó đọc. Để luyện đọc tốt đoạn đó, GV cần lưu ý thêm nhiều chỗ ngắt giọng và nhấn giọng ở các câu sau: - Có hôm chú thuộc hai mươi trang sách / mà vẫn có thì giờ chơi diều. - Đã học/ thì cũng phải đèn sách như ai / nhưng / sách của chú / là lưng trâu, nền cát, bút / là ngón tay hay mãnh gạch vỡ, còn đèn / là võ trứng thả đom đóm vào trong. Đó là chưa kể đén việc phải chú ý đến các lỗi đọc của chính GV. Bên cạnh đó là việc ngắt giọng tùy tiện chỉ vì chưa cắt nghĩa được vì sao lại đọc như vậy. Cho nên nghiêm khắc với bản thân khi luyện đọc mẫu là một thái độ cần thiết mà mỗi GV đều phải tự xác định. Song song với việc luyện đọc thanh tiếng, chương trình tập đọc lớp 4 rất chú trọng việc luyện đọc thầm, đặc biệt đọc lướt. Kĩ năng này giúp thực hiện tốt các yêu cầu đọc hiểu trong khuôn khổ thời gian có hạn mà văn bản đọc lại chứa nhiều thông tin hơn so với văn bản của các lớp dưới. Để hướng đãn tìm hiểu bài, GV có thể dùng nguyên văn câu hỏi, bài tập trong SGK, hoặc chia tách thành các ý nhỏ, hay bổ sung câu hỏi phụ nhằm dẫn dắt HS trả lời câu hỏi, thực hiện bài tập. Về điều này sách giáo viên đã nêu một số tình huống tiêu biểu, giúp giáo viên có thể vận dụng trong các trường hợp khác. VD: Bài Chị em tôi ( tuần 6) sách giáo viên soạn 4 câu hỏi: 1. Cô chị nói dối ba để đi đâu? 2. Vì sao mỗi lần nói dối, lại thấy ân hận? 3. Cô em đã làm gì để chị mình thôi nói dối? TaiLieu.VN Page 2 4. Vì sao cách làm của cô em giúp được chị tỉnh ngộ? Sách giáo viên đã bổ sung vài câu hỏi nhỏ giúp HS dể tìm hiểu nội dung bài học, vì vậy hệ thống câu hỏi được sử dụng là: 1. Cô chị xin phép ba đi đâu? 2. Cô có đi học nhóm thật không? Em đoán xem cô đi đâu? 3. Cô nói dối ba như vậy đã nhiều lần chưa? Vì sao cô lại nói dối được nhiều lần như vậy? 4. Cô em đã làm gì để chị mình thôi nói dối? 5. Vì sao cách làm của cô em giúp được chị tỉnh ngộ? 6. Cô chị đã thay đổi như thế nào? 7. Câu chuyện muốn nối với các em điều gì? 8. Hãy đặt tên cho cô em và cô chị theo đặc điểm tính cách? Nhìn vào số lượng câu hỏi, ai có thể sẽ lo ngại, nhưng thực ra HS không mất mấy thời gian để trả lời các câu hỏi này, ngoại trừ câu số 4 ( ở đay cần phải giúp HS thấy rằng cô em đã tương kế tựu kế đối với chị khiến chị thấy thói xấu của mình qua thói xấu của người khác ). Sau khi trao đổi vấn đề sẽ sáng tỏ do vậy HS sẽ đọc bài tốt hơn, nhất là đọc theo hình thức phân vai. Việc GV chủ động, tích cực trong khi sử dụng các câu hỏi đọc hiểu sẽ giúp HS tích cực vận dụng các thao tác tư duy, chủ động tìm hiểu kiến thức, hình thành và rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ. Đói với những câu hỏi trừu tượng và khó so với trình độ tư duy và vốn sóng của trẻ em thì tìm cách giảm độ khó là cần thiết. VD: Bài Thưa chuyện với mẹ ( tuần 9)- Nếu GV tung thành với bài tập 4 ( yêu cầu HS nhận xét về cách xưng hô, cử chỉ trong lúc trò chuyện của mẹ con Cương), HS sẽ trả lời rất dài, chưa kể đến việc tìm từ ngữ diễn đạt rất khó khăn, tiến độ giờ học vì vậy khó đảm bảo. cho nên có thể giảm bớt dung lượng kiến thức như sau: Qua cuộc trò chuyện giữa hai mẹ con, em thấy Cương là người như thế nào? ( Hiếu thảo, thương yêu mẹ, biết cách thuyết phục mẹ động tình với mong muốn của mình). Còn đối với các trường hợp các câu hỏi có nội dung chưa rõ ràng do cách diễn đạt còn dài dòng, mơ hồ hoặc áp đặt trước cách hiểu cho HS thì GV nên điều chỉnh cho tăng phần dễ hiểu và hấp dẫn. TaiLieu.VN Page 3 VD: Bài Dế Mèn bên vực kẻ yếu- Có thể đổi hai câu hỏi 1 và 2 ( Chị Nhà Trò yếu ớt như thế nào? Nhà Trò bị Nhện ức hiếp, đe dọa như thế nào?) thành hai câu hỏi như sau: Tìm trong bài những từ ngữ mêu tả chị Nhà Trò. Chị đã gặp phải chuyện gì? ( hoặc: Vì sao chị khóc?) Cùng với kĩ năng sử dụng câu hỏi, khi hướng dân HS tìm hiểu bài GV cũng cần quan tâm tới thao tác giải nghĩa từ. Trước hết cần quan niệm thế nào là từ khó, cách định tính tốt nhất là căn cứ vào đối tượng HS để lựa chọn từ ngữ cần giải thích. Chẳn hạn cần cho HS ở vùng miền này hiểu cách dùng từ , diễn đạt của vùng khác; Ỏ các lớp có số lượng HS khá, giỏi không cao thì cần giải thích thêm nhiều từ ngữ hơn. Sau đó ít nhất phải cho HS hiểu nghĩa văn cảnh của từ ngữ đó, nếu tách từ khỏi văn cảnh, rất có thể sẽ dẫn đến những cách hiểu lệch lạc. VD: Từ lũy, thành trong bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy không chỉ là bờ cao, thường đắp bằng đất hoặc xây bằng gạch đá như cách giải thích của SGK mà còn mang nét nghĩa của từ ghép lũy tre. Hoặc từ lận trong câu tục ngữ : Ai ơi đã quyết thì hành, Đã đan thì lận tròn vành mới thôi không hẳn là dận chân xuống mà là cạp- công đoạn cuối của việc đan rỗ, rá, thúng… những đồ vật có hình tròn, khi hoàn thiện chúng, rõ ràng càng tròn vành càng đẹp. Cuối cùng là việc lựa chọn quy trình và hình thức dạy học sao cho hợp lý. Về quy trình có thể thực hiện theo các bước: - Luyện đọc từ, câu, đoạn kết hợp giải nghĩa từ. - Tìm hiểu bài - Đọc điễn cảm - Củng cố, dặn dò. Nếu bài học là một đoạn văn bản nghệ thuật thì có thể tổ chức cho HS luyện tập theo từng đoạn, cuối cùng đọc diễn cảm toàn bài. Về hình thức, có thể cho HS làm việc cá nhân, theo cặp, theo nhóm, thảo luận tự do… Nhìn chung GV nên căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn cho phù hợp. Qua những điều vừa trình bày, có thể khẳng định rằng, nếu một GV nào đó đã nắm vững nội dung và phương pháp dạy học tập đọc lớp 3 thì sẽ hoàn toàn tự tin khi tiếp nhận chương trình tập đọc lớp 4. Giáo viên thực hiện: Lê Thị Trí TaiLieu.VN Page 4

 

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TẬP ĐỌC TIỂU HỌC PPDH là hoạt động dạy của Thầy và học của trò trong sự phối hợp thống nhất, đồng thời có sự kết hợp của phương tiện dạy học và hình thức tổ chức hoạt động của học sinh. Trên cơ sở nắm vững nội dung, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp một cách một cách nhuẫn nhuyễn để kích thích mọi hoạt động của học sinh. PHẦN LÝ THUYẾT: I. Phương pháp dạy học là gì? PPDH là hoạt động dạy của Thầy và học của trò trong sự phối hợp thống nhất, đồng thời có sự kết hợp của phương tiện dạy học và hình thức tổ chức hoạt động của học sinh. Trên cơ sở nắm vững nội dung, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp một cách một cách nhuẫn nhuyễn để kích thích mọi hoạt động của học sinh. II. Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học: Đổi mới PPDH là đưa các PPDH mới vào nhà trường trên cơ sở kế thừa và phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục và đào tạo. III. Phương pháp dạy Tập đọc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học: 1. Các phương pháp dạy Tập đọc: a. Phương pháp phân tích mẫu: Dưới sự hướng dẫn của GV, học sinh phân tích các vật liệu mẫu (văn bản) để hình thành các kiến thức văn học, các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Từ những hiện tượng chứa đựng trong các văn bản, GV giúp HS phân tích theo các nhiệm vụ đã nêu trong SGK để các em hiểu bài. Để HS phân tích được mẫu dễ dàng, GV có thể tách các câu hỏi, các công việc trong SGK ra thành những câu hỏi, nhiệm vụ nhỏ hơn. TaiLieu.VN Page 1 Về hình thức tổ chức tuỳ từng bài, từng nhiệm vụ cụ thể, GV có thể cho HS làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, sau đó trình bày kết quả phân tích trước lớp. 2/ Phương pháp trực quan : Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát các tranh minh hoạ trong các bài tập đọc, các vật mẫu giúp các em hiểu thêm một số chi tiết, tình huống và nhân vật trong bài. 3/ Phương pháp thực hành giao tiếp: GV tổ chức các hoạt động trong giờ học sao cho mỗi HS trong lớp đều được đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc đồng thanh, theo nhóm, cá nhân…) được trao đổi nhận thức của mình với thầy cô, bạn bè. 4/ Phương pháp cá thể hoá sản phẩm của học sinh: Giáo viên chú ý đến từng học sinh, tôn trọng những phát hiện và ý kiến riêng của từng em. Thận trọng khi đánh giá học sinh, tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện và sửa chữa lỗi diễn đạt. 5/ Phương pháp cùng tham gia. Giáo viên tổ chức cho học sinh cùng cộng tác thực hiện nhiệm vụ học tập, cùng tham gia các trò chơi luyện đọc nhằm hình thành kiến thức, rèn kĩ năng và phát triển khả năng làm việc với cộng đồng. Các hình thức phổ biến để thực hiện, cùng tham gia luyện đọc và trao đổi theo nhóm, đóng vai, thi đua. 6/ Một số kĩ thuật dạy học rèn kĩ năng sống: 6.1 Đọc sáng tạo. Học sinh đọc diễn cảm. hay đọc theo phân vai có sáng tạo trong giọng đọc, cách đọc. Khi đọc học sinh kết hợp tìm từ, ý của câu, đoạn bài. 6.2 Thảo luận nhóm Dùng để thảo luận một vấn đề khó, hay đóng vai đọc bài. Có nhiều hình thức chia nhóm như đã học trong kĩ năng sống. 6.3 Hỏi đáp trước lớp Học sinh hỏi và bạn trả lời. theo gợi ý của giáo viên. 6.4 Đóng vai xử lý tình huống. Giáo vên nêu tình huống học sinh phân vai đóng để xử lí tình huống đó. TaiLieu.VN Page 2 6.5 Tự bộc lộ Theo gợi ý của GV học sinh tự bộc lộ suy nghĩ của mình cho cả lớp biết về một vấn đề nào đó liên quan đến bài học. 6.6 Gợi tìm Học sinh tự tìm kiếm những vấn đề do giáo viên yêu cầu. Như từ khó, câu khó, nội dung bài… IV. Các biện pháp dạy Tập đọc: a. Đọc mẫu của GV: - Đọc toàn bài: nhằm giới thiệu, gây xúc cảm, tạo hứng thú và tâm thế đọc cho HS. GV căn cứ vào trình độ của HS lớp mình có thể đọc 1 hoặc 2 lần tuỳ mục đích đặt ra. - Đọc câu, đoạn: nhằm minh hoạ, hướng dẫn, gợi ý hoặc “tạo tình huống” để HS nhận xét, giải thích tự tìm ra cách đọc… (có thể đọc một vài lần trong quá trình dạy học). - Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa lỗi phát âm và rèn cách đọc đúng cho HS. b. Hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của từ và nội dung bài: b.1. Tìm hiểu nghĩa của từ: Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa là những từ khó đối với HS được chú giải sau bài đọc, từ ngữ phổ thông mà HS địa phương mình chưa quen, từ ngữ đóng vai trò chìa khoá để hiểu nội dung bài đọc. Những từ ngữ còn lại, nếu HS nào chưa hiểu, GV giải thích riêng cho HS đó hoặc tạo điều kiện để HS khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra giải thích chung cho cả lớp. b.2 . Cách hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa: - Đọc phần giải nghĩa trong SGK (thông thường). - Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ cần giải nghĩa (Có thể phối hợp động tác, cử chỉ. VD: Vòng vèo: GV có thể dùng tay uốn lượn) - Sử dụng hiện vật, tranh vẽ, mô hình … - Tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải nghĩa - Đặt câu với từ cần giải nghĩa: cần lưu ý là phải giới hạn việc giải nghĩa từ trong phạm vi nghĩa cụ thể của bài học, không mở rộng những nghĩa khác, nhất là những TaiLieu.VN Page 3 nghĩa xa lạ đối với HS, không nên bày ra những biện pháp giải nghĩa cồng kềnh gây quá tải, làm mất thời gian luyện đọc của HS. b.3. Tìm hiểu nội dung bài: * Phạm vi nội dung cần tìm hiểu: + Với văn bản văn chương: Nhân vật (số lượng, tên, đặc điểm), tình tiết câu chuyện,nghĩa đen, nghĩa bóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ. Ý nghĩa của câu chuyện, bài văn, bài thơ. + Với các văn bản khác (khoa học, hành chính, báo chí …): Tìm hiểu các đoạn của văn bản, hình thức và bố cục, nội dung và ý nghĩa của văn bản, tác dụng … * Cách tìm hiểu nội dung bài đọc: SGK thường nêu những câu hỏi tái hiện, sau đó mới đặt ra những câu hỏi suy luận. Dựa vào câu hỏi đó GV tổ chức cho HS hoạt động trao đổi, thảo luận, trả lời câu hỏi, báo cáo kết quả thảo luận … sao cho mỗi em đều được làm việc để tự nắm được bài. Trong quá trình giảng dạy GV có thể thêm những câu hỏi phụ, câu hỏi dẫn dắt, những yêu cầu, những lời giảng bổ sung (không lạm dụng việc thuyết giảng). Sau khi HS nêu ý kiến, GV sơ kết, nhấn mạnh ý chính và ghi bảng. Trong quá trình tìm hiểu bài, GV phải chú ý rèn cho HS cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý băng câu văn gọn, rõ. c. Hướng dẫn đọc và học thuộc lòng: c.1. Luyện đọc thành tiếng: - Hình thức: cá nhân, từng cặp, nhóm (đôi, lớn) đồng thanh, cả lớp đồng thanh, một nhóm HS đọc theo cách phân vai. GV lắng nghe để phát hiện khả năng đọc của từng HS để có cách rèn đọc thích hợp. c.2. Luyện đọc thầm: Dựa vào SGK, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho HS nhằm định hướng việc trước khi các em đọc “ đọc - hiểu” (Đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào? Đọc để hiểu, biết nhớ điều gì?). Có đoạn văn, đoạn thơ cần cho HS đọc thầm 2-3 lượt với tốc độ nhanh dần và từng bước thực hiện các nhiệm vụ từ dễ đến khó, nhằm rèn cho HS kĩ năng đọc hiểu. TaiLieu.VN Page 4 Tránh đọc thầm chiếu lệ, hình thức (đọc lâm râm nhưng không nắm được nội dung, GV giao việc không cụ thể rõ ràng). c. 3. Luyện đọc thuộc lòng: Với những bài thuộc lòng GV cần cho HS luyện đọc kĩ hơn. Cần ghi bảng một số “từ chốt” để làm “điểm tựa”để HS đễ nhớ và thuộc sau đó xoá dần từ chốt; hoặc tổ chức trò chơi luyện HTL nhẹ nhàng tạo hứng thú cho HS. d. 4. Đọc lướt : Khi muốn cho học sinh tìm 1 từ, cụm từ, câu nào đó mà không phải phải tìm hiểu nội dung của câu đoạn đó, ta có thể cho học sinh đọc lướt cả đoan hay bài để tìm. Đọc lướt đòi hoit học sinh lướt mắt nhanh tìm và nêu lên những yêu cầu của giáo viên. (Chủ yếu dành cho học sinh lớp 4, 5) V. Quy trình dạy Tập đọc: a. Đối với lớp 1: · GV giới thiệu bài (có thể bằng tranh, ảnh…) " GV đọc mẫu bài " Hướng dẫn HS luyện đọc theo trình tự sau: · Đọc tiếng, từ ngữ, ( từ khó, phát âm dễ lẫn;giải nghĩa từ ). · Đọc từng câu ( tiếp nối ). · Đọc từng đoạn ( cá nhân, đồng thanh ). · Ôn và học một cặp vần. · Đọc và trả lời câu hỏi về bài đọc. · Luyện đọc lại ( hoặc HTL). · Luyện nói theo bài đọc. · b. Đối với lớp 2-3: · GV giới thiệu bằng lời, bằng câu hỏi ( tranh, ảnh…) " GV đọc mẫu bài " Hướng dẫn HS luyện đọc kết hợp giải nghĩa từ theo các bước sau: · Đọc nối tiếp từng câu (bỏ qua giai đoạn đọc tiếng, từ). Mục đích của bước đọc này là nhằm chia nhỏ văn bản cho nhiều HS được đọc, giúp GV phát hiện cách đọc, cách phát âm của từng em. GV chỉ cho HS dừng lại khi cần giúp HS sửa lỗi nếu có em phát âm sai; khen ngợi những HS đọc tốt. TaiLieu.VN Page 5 · Đọc tiếp nối từng đoạn trước lớp: Tạo điều kiện GV giúp HS đọc đúng những câu đặc biệt; nghỉ hơi đúng; hiểu đúng từ ngữ " làm mẫu cho HS đọc đúng khi đọc theo cặp, theo nhóm nhỏ. · Đọc từng đoạn trong nhóm: Tạo điều kiện cho 100% HS được luyện đọc Thi đọc từng đoạn trước lớp đối với lớp 2. (Lớp 3 bỏ qua bước này). Chú ý: tích hợp trong khi rèn đọc đúng: từ khó, câu khó, giải nghĩa từ ở chú thích. Nhấn giọng một số từ ngữ cần thiết. - Hướng dẫn HS tìm hiểu bài: Khi tìm hiểu bài HS chủ yếu đọc thầm. GV giao nhiệm vụ cụ thể (đọc thầm phát hiện những từ ngữ, chi tiết hình ảnh; đọc thầm suy nghĩ trả lời câu hỏi) để kiểm soát đọc. - Luyện đọc lại (hoặc HTL). - GV đọc diễn cảm từng đoạn hoặc cả bài ; lưu ý HS về giọng điệu chung của đoạn hoặc bài, những câu cần chú ý. Đối với Lớp 2-3 đọc diễn cảm chưa phải là yêu cầu bắt buộc. Do đó, tuỳ trình độ HS, GV có thể xác định mức độ cho phù hợp - Từng HS hoặc nhóm thi đọc. b. Đối với lớp 4-5: - HS nối nhau đọc từng đoạn ; đọc 2-3 lượt (Với HS đọc tốt có thể cho 1 HS đọc cả bài trước khi đọc nối tiếp từng đoạn). - HS luyện đọc theo cặp. - Một - hai HS đọc cả bài. Chú ý: tích hợp trong khi rèn đọc đúng: từ khó, câu khó, giải nghĩa từ ở chú thích. - GV đọc diễn cảm toàn bài. - GV hướng dẫn HS trao đổi, thảo luận tìm hiểu nội dung bài đọc. - GV hướng dẫn HS luyện đọc lại (hoặc đọc diễn cảm với những văn bản nghệ thuật). Để luyện học sinh đọc được diễn cảm giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu nội dung bài. Sau khi hiểu nội dung bài GV giúp học sinh tìm ra giọng đọc cả bài, giọng đọc từng đoạn. VD: Trong bài tiếng rao đêm: cần đọc với giọng kể chuyện phù hợp với tình huống mỗi đoạn : khi chậm, khi buồn, khi dồn dập, căng thẳng, bất ngờ. TaiLieu.VN Page 6 Để HS đọc diễn cảm tốt cần cho học sinh biết cách nhấn giọng một số từ ngữ trong bài. Tùy theo bài mà chúng ta có cách nhấn giọng khác nhau: như nhấn giọng tự nhiên ở các dòng thơ. (bài Cao Bằng). Nhấn giọng các từ ngũ gợi cảm, nhấn giọng các từ ngữ diễn tả âm thanh, hình dáng, các danh từ, động từ chính trong câu vv… • Về phân bố thời gian: (tùy theo từng bài mà có sự phân bố thời gian hợp lí. - Phần kiểm tra bài cũ: 3-5 phút - Bài mới: + Phần tìm hiểu nội dung bài: Từ 8- 10 phút + Ưu tiên cho phần luyện đọc và các hoạt động về đích: 20 phút TaiLieu.VN Page 7

 

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT A. Nguyên tắc và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học I. Nguyên tắc đặc trưng của dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 1. Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc thực hành) 2. Nguyên tắc phát triển tư duy 3. Nguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lí và trình độ tiếng mẹ đẻ của HS II. Các phương pháp thường sử dụng trong DH Tiếng Việt ở tiểu học 1. Phương pháp phân tích ngôn ngữ 2. Phương pháp luyện theo mẫu 3. Phương pháp giao tiếp B. Phương pháp dạy học các phân môn Tiếng Việt ở tiểu học I. Phương pháp dạy học Học vần 1. Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Học vần 2. Các phương pháp đặc trưng trong dạy học Học vần: phương pháp trực quan, phương pháp luyện theo mẫu, phương pháp trò chơi học tập. II. Phương pháp dạy học Tập Viết 1. Các kĩ năng cơ bản cần rèn luyện cho HS trong phân môn Tập Viết. 2. Vận dụng một số nguyên tắc cơ bản (nguyên tắc phát triển tư duy, nguyên tắc thực hành) vào dạy học Tập viết. III. Phương pháp dạy học Chính tả 1. Ảnh hưởng của đặc điểm chữ viết và ngữ âm TV đến việc DH Chính tả ở tiểu học. 2. Vận dụng: Xây dựng bài tập Chính tả (bài tập bắt buộc, bài tập lựa chọn). IV. Phương pháp dạy học Tập đọc 1. Cơ sở khoa học của dạy học Tập đọc: (a) Chính âm và vấn đề luyện chính âm; (b) Trọng âm, ngữ điệu và ảnh hưởng đến luyện đọc thành tiếng; (c) Các bình diện ngữ nghĩa và ứng dụng luyện đọc hiểu. 2. Vận dụng: (a) Sử dụng các phương pháp giải nghĩa từ trong DH Tập đọc; (b) Thiết kế kế hoạch dạy học rèn kĩ năng đọc hiểu và đọc diễn cảm. V. Phương pháp dạy học Luyện từ và câu 1. Sự chi phối của nguyên tắc giao tiếp, nguyên tắc tích hợp đến nội dung và phương pháp DH Luyện từ và câu. 2. Vận dụng: (a) Sử dụng các phương pháp đặc trưng (luyện theo mẫu, phân tích ngôn ngữ) hướng dẫn HS thực hiện bài tập; (b) Phân tích mục tiêu, cơ sở ngôn ngữ học và thiết TaiLieu.VN Page 1 kế bài tập. VI. Phương pháp dạy học Tập làm văn 1. Hoạt động giao tiếp, ngữ pháp văn bản và ứng dụng vào DH Tập làm văn 2. Vận dụng: (a) Kĩ năng quan sát, kĩ năng xây dựng hệ thống câu hỏi tìm ý trong DH Tập làm văn; (b) Hướng dẫn HS thực hành một số kiểu bài tập Tập làm văn: BT luyện nói hội thoại, BT luyện viết văn bản nghệ thuật (mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng). VII. Phương pháp dạy học Kể chuyện 1. Đặc trưng tính giao tiếp thể hiện qua một số kiểu bài DH Kể chuyện: phân vai, kể chuyện theo lời nhân vật, kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia. 2. Vận dụng các phương pháp đặc trưng trong DH Kể chuyện: trực quan bằng hình vẽ, luyện theo mẫu, thực hành giao tiếp. TaiLieu.VN Page 2

 

PHƯƠNG PHÁP DẠY HS LỚP 1 NHANH BIẾT ĐỌC TIẾNG VIỆT 1. Một số vấn đề hình thành kỹ năng đọc viết cho học sinh lớp 1 theo chương trình sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt lớp 1 hiện nay Thực tế phương pháp dạy tập đọc ở nhà trường hiện nay chưa chú trọng đến cách dạy học sinh ghép âm vần theo hình thức xuôi - ngược, hầu như chỉ dạy học sinh cách ghép xuôi, cho nên để đọc được các vần có cấu trúc: Âm chính + âm cuối -> vần [ac, im..] theo phương pháp nhà trường thì các em phải có đủ một khoảng thời gian rất dài sau quá trình đọc và ghép xuôi thuần thục.Cụ thể: theo chương trình dạy môn Tiếng Việt lớp 1 hiện hành trong nhà trường Tiểu học, đến bài 29 (của phần học vần SGK Tiếng Việt 1) học sinh mới được học các vần có cấu trúc [ Âm chính + âm cuối -> vần ] tức là ở tuần thứ 7 của học kỳ I của học sinh lớp 1 mới bắt đầu học vần. Như vậy, thời gian hình thành kỹ năng học vần và ghép các cấu trúc âm tiết có từ 3 âm trở lên của học sinh lớp 1 như hiện nay chưa tạo điều kiện đủ cho học sinh có thời gian luyện tập kỹ năng đọc, viết tiếng Việt thuần thục lên mức kỹ xảo, để học sinh có thể triển khai mức độ đọc chữ thuần thục trên tất cả ngữ âm tiếng Việt. Cho nên hiện nay ở các trường Tiểu học nông thôn, những học sinh ở các khối lớp 1, 2, 4, 5 ( đặc biệt là học sinh Khmer) vẫn chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt, đây là thực tế rất phổ biến. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: Những học sinh đọc được vần ngược theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì hầu như các em đọc được tất cả các âm tiết có cấu trúc Âm đầu + vần + dấu thanhtrong tiếng Việt, chỉ khác nhau là mức độ đọc thuần thục ở mỗi em. Ngược lại, nếu những học sinh nào chưa hình thành được thao tác ghép âm vần theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì các em không thể đọc được các vần theo cấu trúc đó và càng không thể đọc được các chữ trong tiếng Việt có từ 3 âm trở lên theo cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh ]. Từ đó chúng tôi có thể kết luận, trong quá trình dạy trẻ đọc nếu trẻ chưa nắm được phương pháp cấu trúc các âm tiết ở các dạng khái quát [Âm chính + âm đầu-> vần]; [Âm đệm + âm chính-> vần] thì các em sẽ không thể triển khai hành động đọc trên tất các âm tiết có cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh-> âm tiết ]. Như vậy, muốn trẻ em nhanh biết đọc người dạy cần xác định đúng tầm quan trọng của giai đoạn hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết, phải tổ chức cho các em làm việc trực TaiLieu.VN Page 1 tiếp với con chữ thông qua các hình thức cụ thể như hình thành thao tác đọc, thao tác ghép, phải lựa chọn phương pháp tối ưu nhất để đẩy nhanh tốc độ hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết cho trẻ càng sớm càng tốt, thời gian còn lại trong năm học các em sẽ đủ điều kiện củng cố, tập luyện kỹ năng đọc lên mức kỹ xảo. 2. Đề xuất phương pháp dạy học sinh lớp 1 nhanh biết đọc biết viết tiếng Việt Để dạy học sinh học cách phát âm và cách ghép âm tiết đồng thời, chúng tôi sử dụng một bảng chữ cái tổng hợp làm phương tiện trực quan, cũng đồng thời là nội dung dạy học. Bảng chữ cái tổng hợp được thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định, và người dạy cần phải vận hành đúng tinh thần của những nguyên tắc đó. Ưu điểm của cách dạy này là cùng một lúc, học sinh phát âm và ghép được rất nhiều âm tiết theo các cấu trúc khác nhau, từ dễ đến khó, hơn thế nữa, học sinh không chỉ dừng lại ở số lượng nắm được bao nhiêu âm, vần, tiếng, mà cái quan trọng là qua cách dạy theo phương pháp ngữ âm trực tiếp - tổng hợp này dựa cơ sở định hướng khái quát, học sinh sẽ nhanh chóng biết được cách phát âm, cách kết hợp các dạng khái quát theo các cấu trúc âm vần. Chẳng hạn như các dạng cấu trúc đơn giản Âm chính + âm cuối -> vần [ a - m -> am], Âm đệm + âm chính -> vần [ o - a ® oa] và các âm vần khó: Âm đệm + âm chính + âm cuối - > vần. Ngược lại nếu chúng ta dạy cho học sinh đọc chữ với mục đích là cung cấp từng âm vần một, để học sinh học - nhớ các âm vần đó, theo hình thức tăng dần về số lượng tích lũy được thì đó chưa phải là phương pháp tối ưu để giúp học sinh nhanh biết đọc tiếng Việt. Vì trong tiếng Việt có hơn 115 âm tiết được xếp theo vần, nhưng không tính thành phần âm đệm khi sắp xếp, ví dụ vần [oa]. Như vậy trong một thời gian nhất định, chúng ta không thể cung cấp để học sinh nhớ hết số lượng các âm vần đó để triển khai các thao tác cần thiết đọc chữ, quan trọng hơn là dạy học sinh nắm được phương pháp chung nhất về đọc và ghép âm tiết, sau đó biết cách cụ thể hóa vào các tình huống riêng, cũng như biết triển khai đúng các thao tác của kỹ năng đọc chữ ở tất cả các ngữ âm tiếng Việt. Học sinh đạt được mức độ triển khai thuần thục như vậy thì mới cho là biết đọc chữ. 3. Kết luận Theo phương pháp đọc tiếng Việt hiện nay có nhiều điểm chưa đẩy nhanh tốc độ đọc chữ thuần thục ở học sinh: TaiLieu.VN Page 2 Thứ nhất: cách đọc chữ chủ yếu dạy học sinh ghép xuôi các âm tiết, ít chú ý đến ghép ngược. Vì vậy, ở giai đoạn này học sinh chưa có kỹ năng đọc vần và phân tích cấu trúc các loại âm tiết. Cụ thể: ngay từ bài đầu ( Bài 1 SGK Tiếng Việt 1) các em được giới thiệu lần lượt các âm, vần cụ thể e, b, … cho đến hết bài 26 thì học sinh mới nhận biết được hết 29 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt in ở trang đầu SGK Tiếng Việt lớp 1, qua bài 29 thì các em mới được học từng vần, cụ thể; Bài 29 học sinh học vần [ ia ].. Như vậy, để phát âm được các âm vần có cấu trúc Âm chính + âm cuối -> vần [ac, am, at..] thì theo chương trình học tiếng Việt của học sinh lớp một phải đến tuần thứ 7, các em mới có thể cấu trúc các âm tiết. Trong khi đó, ở tuần thứ nhất, theo phương pháp của chúng tôi đã bắt đầu thực hiện. Thứ hai: việc sử dùng nhiều tranh ảnh trong giai đoạn phát âm và ghépvần, ở SGK Tiếng Việt 1 như hiện nay, sẽ dẫn đến hiện tượng học sinh nhìn tranh - đọc chữ, đây là tính chất đặc trưng khi dạy trẻ mẫu giáo lớn, chính điểm này dẫn đến tình trạng học vẹt của học sinh Tiểu học ở đầu cấp. Đây cũng là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng phổ biến ở những học sinh đã học xong chương trình lớp một nhưng chậm biết đọc tiếng Việt. TaiLieu.VN Page 3

 

PHƯƠNG PHÁP ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH TIỂU HỌC - Lâu nay, dạy học phần đọc diễn cảm trong giờ tập đọc ở tiểu học ít được chú ý đúng mức bởi nhiều nguyên nhân từ phía GV, học sinh, đến chương trình SGK. Dạy tập đọc phải hướng đến giáo dục HS yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. - Tuy vậy để dạy một giờ tập đọc thành công trong đó có phần đọc diễn cảm vãn còn là những trăn trở đối với mỗi GV đứng trên bục giảng. Bởi dạy tốt phần luyện đọc diễn cảm trong giờ tập đọc, cần bảo đảm nhiều yếu tố và phối hợp nhiều hình thức dạy học sáng tạo từ phía GV đến học sinh. - Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng một cách rõ ràng, chính xác có ngữ điệu đọc phù hợp với nội dung văn bản, nhằm truyền cảm được nội dung bài đọc đến người nghe. Để thực hiện tốt phần luyện đọc đúng (rõ ràng, chính xác), hiểu được nội dung của đoạn bài được đọc. Sau đó GV hướng dẫn HS thực hiện tốt các phương pháp, yếu tố luyện đọc diễn cảm sau: A. Ngắt nghỉ giọng đúng lúc, đúng chỗ, bộc lộ được ý tứ nội dung bài đọc. - Khi đọc các bài văn xuôi, chỗ ngắt giọng phải trùng hợp với danh giới ngữ đoạn. khi đọc một bài thơ, chỗ ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn. Sự phân chia lời ở dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ ngắt giọng. Sự phân chia lời ở dạng viết đựoc hình thức hoá bàng dấu câu. Chỗ ngắt giọng cũng là một căn cứ để người nghe xác định được ý nghĩa từ vựng, ngữ pháp, nội dung bài đọc. Vì thế khi dạy một bài đọc cụ thể GV cần dự tính những chỗ HS hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng. B. Nhịp điệu đọc thay đổi lúc chậm rãi, lúc dồn dập khẩn trương phù hợp với nội dung bài đọc - Bên cạnh việc hướng dẫn HS ngắt giọng thể hiện đúng quan hệ ngữ nghĩa- ngữ pháp còn dạy cho HS tốc độ đọc đúng, ngắt giọng biểu cảm là đọc nhanh hay ngừng lâu hơn bình thường, hay dừng không do lô gic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc nhằm tạo nên những chỗ ngừng gây “ bão tố”, tập trung sự chú ý của người nghe vào từ ngữ sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa. VD: Sông La / ơi Sông La TaiLieu.VN Page 1 Trong veo / như ánh mắt Bè đi / chiều thì thầm Gỗ lượn đàn thong thả. (Bè xuôi Sông La- TV4, tập2) C. Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ. - Khi giảng dạy GV cần chú ý đến thể loại văn, thơ, truyện và ND, ý nghĩa của bài học để có phương pháp hướng dẫn HS luyện đọc diễn cảm một cách cụ thể và chính xác nhất, không đọc chậm quá, nhanh quá hoặc liến thoáng làm cho người nghe khó theo dõi không hiểu đúng ND của bài học và ẩn ý của tác giả gửi gắm, bọc kín sau lớp vỏ ngôn từ. VD: Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh / tre mãi / xanh màu / tre xanh. (Tre VN – TV5) - Ở khổ thơ trên cần đọc với giọng nhẹ nhàng, thể hiện được dụng ý của tác giả trong cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng độc đáo. Sự trùng điệp của 3 dòng thơ “Mai sau” có giá trị biểu đạt đặc biệt, ý thơ âm vang bay bổng, câu thơ gợi ra những liên tưởng phong phú. Sự trường tồn của tre, của con người Việt Nam. D. Giọng đọc lên cao hay xuống thấp - Để thực hiện đựơc yêu cầu này, trong giờ tập đọc GV không được coi nhẹ khâu nào (Đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm). Ba vấn đề này quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau để đạt được cái đích cuối cùng trong giờ tập đọc. - Tuy vậy để HS có giọng đọc phù hợp, chính xác thực hiện tốt kỹ năng đọc hiểu nhưu sau: Hiểu nghĩa từ, tìm được từ khoá, câu khoá trong bài, tóm tắt được ND của đoạn, bài, phát hiện ra yếu tố văn và gía trị của chúng trong việc biểu đạt ND. Cần chú ý đến các yếu tố nghẹ thuật được tác giả sử dụng trong văn thơ như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ. E. Thay đổi sắc thái giọng đọc - Thông qua giọng đọc người đọc có thể biểu hiện được những sắc thái tình cảm đa dạng của con người như buồn, yêu, ghét, lo lắng, giận hờn, khinh bỉ, phẫn nộ. TaiLieu.VN Page 2 G. Nét mặt, điệu bộ khi đọc 1. Khi cần thiết nếu biết thể hiện nét mặt, điêu bộ một cách tự nhiên, phù hợp với ND văn bản thì sẽ góp phần tạo nên sự truyền cảm đối với người nghe. - Chú ý cách ngắt nhịp đặc biệt ở các câu: (Bác không còn?/ Bác không còn!/ Bác ơi!) để nhấn mạnh được nỗi đau xót quá lớn không thể tin đó là sự thật. 2. Một số điểm cần được lưu ý khi rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho HS tiểu học. 2.1. Khi luyện đọc văn miêu tả: Văn miêu tả là loại văn dùng để miêu tả sự vật hiện tượng hoặc con người một cách cụ thể, sinh động như đang hiện lên trước mắt người đọc. Trong các bài tập đọc của tiểu học có nhiều bài văn miêu tả người như: Ông tôi (TV3), Bà tôi (TV5) là những bài tả người. Chú trống choai (TV3), Con chuồn chuồn nước (TV4) là những bài miêu tả con vật. Cánh đồng lúa chín (TV2), Rừng cọ quê tôi (TV4) là những bài tả phong cảnh. Khi đọc văn miêu tả cần nhấn giọng ở các từ ngữ nổi bật có tác dung miêu tả đường nét, màu sắc, hình ảnh, đặc điểm sự vật. Trong văn miêu tả cũng như văn xuôi dấu phẩy, dấu chấm chính là những dấu ngắt nhịp khi đọc. Dấu phẩy ngắt một nhịp / dấu chấm ngắt 2 nhịp //. Ngoài ra trong câu văn có những vị trí tuy không có dấu câu song vẫn phải ngắt nhịp để ý nghĩ đọc lên rành mạch hơn. 2.2. Khi đọc diễn cảm thơ cần chú ý: Thơ là tiếng nói của tình cảm, phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn từ một cách cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh và giàu nhạc điệu. - Thơ ca có cấu trúc âm thanh, vần điệu tương đối chặt chẽ theo quy tắc riêng tạo thành các thể thơ như: , thơ lục bát, song thất lục bát, thơ tự do ... vì thế khi giảng GV cần nắm vững các thể thơ, để phân định rõ ranh giới các nhịp thơ trong bài thơ cụ thể. Ngắt một nhịp/, ngắt hai nhịp//, giọng đọc đi lên, giọng đọc đi xuống. 2.3. Khi luyện đọc văn nghị luận cần chú ý: - Khi đọc văn nghị luận giọng đọc rắn rỏi, dứt khoát cần nhấn giọng ở những câu chủ đề, ở những từ ngữ nêu bật lý lẽ và dẫn chứng của bài văn, các từ ngữ có tác dụng liên kết. Phần ngắt giọng một cách rõ ràng giữa các đoạn trong bài văn nghị luận, như bài: “lòng yêu nước của nhân dân ta”. TV- tập2. 2.4. Luyện đọc văn kể truyện cần lưu ý: TaiLieu.VN Page 3 - Cần có nhịp điệu và sắc thái giọng đọc khác nhau khi đọc lời kể của tác giả và của nhân vật. - Cần phối hợp giọng đọc với nét mặt, cử chỉ, điệu bộ trong khi đọcmotj cách nhịp nhàng, qua thực tế dạy học. Tập đọc là một phân môn thực hành, nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ 4 kỹ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu về chất lượng “ đọc” đó là: đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc hay. Cũng cần phải hiểu kỹ năng đọc có nhiều mức độ khác nhau, nhiều tầng bậc khác nhau. - Mong rằng những điều đã nêu trên, sẽ góp phần nhỏ vào kinh nghiệm dạy học của đồng nghiệp về phương pháp, hình thức dạy đọc diễn cảm trong phân môn tập đọc ở tiểu học, nhằm bồi dưỡng cái đẹp cái thiện, lòng yêu mến và thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiềng Việt trong mỗi HS. Người viết : Nguyễn Thị Tiệp TaiLieu.VN Page 4

 

Đồng bộ tài khoản